Bậc Kiên

 

 

Mục Lục

 

Ngũ Minh Pháp ^Mục Lục

 

A. Dẫn nhập:

Sống ngay với hiện tại ắt hẳn không thể nào tách lìa cuộc sống của thế gian. Điều đó quá rõ ràng. Cuộc sống trọn vẹn trong hiên tại chính là cuộc sống có cống hiến lớn nhất đối với xã hội và đối với bản thân. Cũng là kiểu sống tốt đẹp nhất, an lạc nhất, hạnh phúc nhất. Kiểu sống đó chính là kiểu sống của đạo Phật. Đạo Phật là một kiểu sống, một khoa học và một nghệ thuật sống đi vào chiều sâu của tâm hồn. Đó là cái nếp sống trọn vẹn.

Muốn thực hiện cái nếp sống trọn vẹn ấy thì phải có những phương thức thích hợp với tinh thần nhập thế, phải có những kiến thức làm nền tảng cho những phương thức hành động. Kiến thức ấy đạo Phật gọi là "MINH". Đại khái có năm phần, gọi là "Ngũ Minh".

 

B. Ngũ Minh Pháp:

I. Định nghĩa:

Ngũ Minh là năm kiến thức mà người hoằng pháp nói chung và người Huynh trưởng nói riêng cần phải am tường. Đó là: Nội minh, Nhân minh, Thanh minh, Công xảo minh, Y phương minh.

 

II. Nội dung của ngũ minh:

1. Nội minh:

Nội minh là kiến thức về nội điển Phật giáo. Như đã nói ở trên, mục đích đức Phật ra đời là "khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến". Giáo pháp của đức Phật là những phương pháp đưa chúng sanh từ chỗ khổ đau đến chỗ an vui, từ mê lầm đến giác ngộ.

Người Huynh trưởng muốn đem giáo pháp truyền bá cho đàn em của mình, cho những người chung quanh để đều được hưởng lợi ích thì trước hết tự mình phải hiểu rõ giáo lý của đạo Phật. Nếu không hiểu giáo lý của đạo Phật thì không thể nào thực hành đúng Phật pháp. Những tình trạng lộn xộn, mê tín, lố lăng của đạo Phật Việt nam sở dĩ có ra cũng vì người hành đạo thiếu sự am tường về giáo lý (nội điển).

Bao giờ đạo Phật cũng chủ trương: Hiểu rồi mới làm. Làm mà không hiểu ắt phải bị lạc hướng. Hướng dẫn giảng dạy giáo lý cho các em của mình (vì không có đủ các vị Tăng sĩ giảng dạy giáo lý cho các Gia đình) mà chưa hiểu nội điển là một điều vô cùng nguy hiểm. Không ai có thể tha thứ được cái thái độ "Nhất manh dẫn quần manh" (2).

Nhưng cũng không phải đợi đến thông suốt hết ba tạng kinh điển mới giảng dạy vì không ai có thể tự hào rằng mình đã thông suốt ba tạng kinh điển. Tuy nhiên người Huynh trưởng phải nắm được đại cương của Phật pháp, mục đích của Phật pháp (trong bài "Mục đích của Phật pháp") và nắm được hệ thống của ba tạng kinh điển. Giáo lý cao siêu trong ba tạng ấy được phần làm ba hệ thống (sẽ có dịp bàn rộng hơn ở các bậc sau):

1. Hệ thống Bát Nhã:

Giáo lý Chơn không, chủ trương rằng vạn pháp là không thực để hiểu lý tánh chơn không.

2. Hệ thống Pháp tướng:

Giáo lý Duy thức, chủ trương vạn pháp không thực tánh và sở dĩ có ra là do thức biểu hiện ra ngàn sai muôn khác.

3. Hệ thống Pháp tánh:

Chủ trương đạt đến chơn như. Các pháp đều do chơn như duyên khởi mà có.

Mỗi hệ thống giáo lý có vô số pháp môn để chúng sanh thực hành và đạt đến quả vị giác ngộ. Người hoằng pháp cần thông hiểu các hệ thống giáo lý và các pháp môn phương tiện để có thể đem ra ứng tiếp với xã hội cho hợp thời, hợp cơ.

Vậy, người Huynh trưởng phải luôn học hỏi giáo lý, nghiên cứu giáo lý, cần chọn một vị cao Tăng uyên thâm nội điển làm cố vấn cho mình. Sự hiểu biết nội điển là quan trọng nhất.

2. Nhân minh:

Am tường giáo lý chưa đủ, phải biết cách trình bày giáo lý một cách rõ ràng khúc chiết, lập luận vững vàng. Muốn được vậy, người hoằng pháp phải biết phương pháp luận lý. Phương pháp luận lý ấy gọi là "Nhân minh", tức là môn luận lý học của đạo Phật (có phương tiện sẽ nghiên cứu sau, phạm vi bài này chỉ trình bày qua đại cương). Đại cương, phương pháp luận lý này, cần có (và phải có) 3 phần chính: Tôn, Nhân, Dụ. Tôn là vấn đề đặt ra, là chủ trương của mình. Nhân là lý do đưa đến vấn đề đó, nguyên nhân hình thành chủ trương đó. Dụ là những sự kiện đưa ra để chứng minh.

Ví dụ: Tôn: Ông A phải chết. Nhân: Vì ông A đã có lúc sanh ra. Dụ: Phàm cái gì có sanh tức có chết như vua Quang Trung, văn hào Nuyễn Du ... (Đồng dụ: Ví dụ tương đồng).

Phàm cái gì không có sanh tất không có chết như hư không... (Dị dụ: Ví dụ tương phản).

Tôn: Hôm nay trò B bị phạt. Nhân: Vì trò B không thuộc bài. Dụ: Phàm học sinh nào không thuộc bài thì bị phạt như trò C, trò D trước đây không thuộc bài đều bị phạt (Đồng dụ).

Phàm học sinh thuộc bài thì không bị phạt như trò L, M (Dị dụ).

Ba phần Tôn, Nhân, Dụ phải liên lạc mật thiết nhau. Phân biệt chơn với ngụy, chính với tà và thuyết phục được người chưa hiểu đạo.

3. Thanh minh:

Đây là môn học về ngôn ngữ, về âm thanh, về văn học. Cần trau dồi văn chương để trình bày được lưu loát, có khả năng diễn đạt. Có phương tiện cần học thêm ngoại ngữ như hán văn, Paly để đọc thêm kinh sách (Nhờ có các vị Thượng tọa uyên thâm Hán văn, Paly ngày nay ta mới có một số kinh dịch ra tiếng Việt), Anh văn, Pháp văn ... để có thể phiên dịch kinh sách. Âm nhạc, nếu biết lợi dụng, cũng có thể là phương tiện truyền bá giáo lý (các bài hát trong GĐPT).

4. Công xảo minh:

Tức là môn học về công nghệ, về kỹ thuật. Người Phật tử tại gia không thể không có một nghề (nghề chính đáng) trong tay để sống: nghề nông, nghề mộc, nghề may, thợ máy, lái xe, dạy học, kiến trúc sư, kỹ sư v.v... Có khoa học, kỹ thuật giúp cho nghề của ta mỗi ngày một tiến bộ, mỗi ngày một tinh xảo. Và nhìn rộng ra, một quốc gia, một xã hội mà nền khoa học, kỹ thuật được mở mang thì quốc gia đó, xã hội đó càng văn minh, càng hiện đại. Vậy, môn học này không những giúp cho cuộc sống cá nhân, của gia đình mà còn giúp cho nước nhà, nhất là một nước chậm tiến, kém phát triển sau những thế kỷ triền miên trong chiến tranh như Việt Nam.

Nhưng công xảo minh trong Phật giáo có những nét đặc thù của nó. Chúng ta biết cách mạng khoa học kỹ thuật nhưng phải lấy tinh thần Từ bi làm căn bản, lấy tinh thần Lợi tha làm hướng tiến, chứ không phải cốt để làm giàu cho cá nhân mình. Nếu công nghệ, kỹ thuật chỉ là lợi khí cho sự kinh doanh vụ lợi, ích kỷ, thì đó là điều mà Phật giáo rất bài xích, vì cái công nghệ ấy, cái khoa học kỹ thuật ấy càng tiến bộ chừng nào chỉ gây đau khổ cho loài người chừng ấy. Chúng sẽ biến thành lợi khí để tranh giành, cướp giựt, kỹ thuật tiến bộ của bom đạn đã là một sự đe dọa ghê gớm cho loài người.

Người Phật tử học lấy công nghệ, kỹ thuật để phụng sự cho nhân loại vì lòng Từ bi, vì tinh thần Vị tha, muốn cho nhân loại có hạnh phúc chân thực, tránh những thảm họa do dục vọng gây nên.

5. Y phương minh:

Môn học về các phương thuốc chữa bệnh và phương pháp chữa bệnh. Các đức Phật là những bậc lương y trị cả thân bệnh và tâm bệnh. Đức Dược Sư Lưu Ly là một gương sáng. Những phương thuốc chữa bệnh tinh thần, đã đành rất cần thiết mà những phương thuốc chữa bệnh thể chất cũng không thể là không cần đến. Người Phật tử có kiến thức về y học (biết chữa những bệnh thông thường hoặc biết cấp cứu một nạn nhân trước khi đưa đến bệnh viện là một điều tối cần thiết) dễ dàng thực hiện các công tác xã hội hợp với tinh thần từ bi. Bởi vậy trong chương trình tu học của GĐPT có phần cứu thương. Ngoài phần cứu thương trong GĐPT, chúng ta có thì giờ nên nghiên cứu thêm các sách về y học. Nếu có duyên tốt hơn nữa, những Phật tử là Bác sĩ, là Y tá, là Đông y sĩ v.v... tất có trong tay phương tiện hành đạo rất quý giá. Một vị lương y tận tình chăm sóc, cứu chữa cho bệnh nhân, an ủi cứu giúp họ khi đau ốm trầm trọng là tiêu biểu tinh thần cứu tế của đạo Phật.

C. Trong Nội Minh đã có Ngũ Minh.

Trong bài đã phân tích Ngũ Minh cho Phật tử thấy rõ tinh thần nhập thế của đạo Phật. Chính tinh thần này đức Phật đă truyền dạy kỹ càng cho đệ tử của Ngài. Trong nội điển đã nói đến, hay nói cách khác, trong Nội minh đă bao trùm cả 4 minh kia. Nếu chịu khó phân tích suy luận thì ta cũng có thể nhận ra được. Như trong kinh Nikaya, phẩm Gotami, mục 4 Dighajàma người Koya, đức Thế Tôn đă trình bày cho Dighajàma 4 phép đưa đến hạnh phúc hiện tại cho thiện nam tử. Đó là: đầy đủ tháo vác, đầy đủ phòng hộ, làm bạn với thiện, sống thăng bằng điều hòa. Đức Thế Tôn giải thích rõ: sự tháo vác và sự phòng hộ: "Ở đây, này Pyagghapajja, thiện nam tử, phàm làm nghề gì để sinh sống, hoặc nghề nông hoặc đi buôn, hoặc nuôi bò, hoặc làm nghề bắn cung, hoặc làm việc cho Vua, hoặc bất cứ một nghề gì, trong nghề ấy, người ấy thiện xảo, không biết mệt, biết suy tư, hiểu phương tiện vừa đủ để tự làm và điều khiển người khác làm. Này Pyaghapajja, đấy gọi là đầy đủ sự tháo vác. Và này, Pyaghapajja, thế nào là đầy đủ sự phòng hộ?"

"Những tài sản của thiện nam tử, do tháo vác tinh tấn thâu hoạch được, do mồ hôi đổ ra đúng pháp, vị ấy gìn giữ chúng, phòng hộ và bảo vệ: làm thế nào các tài sản này của ta không bị Vua mang đi, không bị lửa đốt, không bị nước cuốn trôi, không bị các người con thừa tự không khả ái đoạt. Này Pyghapajja, đấy là đầy đủ sự phòng hộ..." (Tăng chi phố kinh, tập III, quyển A).

Như vậy, đă thấy rõ điều Phật khuyên dạy ta về "Công xảo minh".

Về phần làm bạn với thiện, đức Phật cũng đã giải thích: Làm bạn với thiện tức là làm thân với những người hiền thiện, mình học và thành tựu được: Tín - Giới - Trí - Tuệ. Và 4 pháp học được ở bạn hiền này cũng là 4 pháp an lạc mai sau. Nghề tháo vác không đem đến an lạc sau khi chết (mai sau). Vả lại, 4 pháp khó được là: tài sản có đúng pháp (do mồ hôi làm ra) có danh tiếng, sống lâu, chết sanh cõi lành, là những điều tốt đẹp mà khó được. Muốn có được 4 pháp này, phải thành tựu: Tín - Giới - Trí - Tuệ. Như vậy, đức Phật đă cho ta thấy tầm vóc quan trọng của "Nội minh" như thế nào trong cuộc sống.

Chỉ có người thành tựu Tín - Giới - Trí - Tuệ mới đầy đủ siêng năng sáng suốt trong việc làm ăn chính đáng. Vì ít dục hay không dục thì mới siêng năng và siêng năng đúng (Chánh tinh tấn, chánh mạng, chánh nghiệp). Ít dục hay không dục thì sáng suốt đúng đắn đầy sáng tạo, trong sáng (chánh tri kiến, chánh tư duy). Đây là then chốt cho 4 Minh sau thành tựu. Nếu con người còn nhiều dục vọng thì có siêng cũng siêng sai (vì tham lợi) và hết lợi thì làm biếng. Dù có sáng suốt cũng chỉ sáng suốt trong mưu đồ, mánh lới. Đó là sự sụp đổ của 4 Minh sau. Nếu có thành tựu thì thêm đại họa cho con người, nguyên nhân chính cũng vì không thành tựu "Nội minh" (Cũng trong Tăng chi bộ kinh, quyển III tập A).

Hơn nữa, khi ta hiểu Lý Nhân Duyên sinh thấy ta thấy được rằng: Đôi khi ta có "Công xảo minh" nhưng nghề nghiệp sinh sống của ta cũng gặp lắm trở ngại, không thành tựu. Chẳng hạn như trong việc trồng mà có người có kế hoạch đúng đắn, cụ thể; canh tác có khoa học kỹ thuật nhưng cũng có lúc cũng thất bại chua cay vì chưa hội đủ thiện duyên, thuận duyên. Vậy, "Nội minh" thì trong kinh Pháp Cú cũng có đoạn:

"Lìa ái không chấp thủ,
Cú pháp khéo biện tài,
Thông suốt từ vô ngại,
Hiểu thứ lớp trước sau,
Thân này thân cuối cùng,
Người như vậy được gọi,
Bậc Đại nhân, Đại sĩ."

(Pháp cú câu 352)

Thế rõ ràng đức Phật đă dạy ta về "Nhân Minh". (Sau này các vị Tổ chỉ dạy rõ ràng về phương pháp "Nhân minh luận")

D. Kết luận:

Nhìn chung lại "Nội Minh" (tức Phật pháp) đào luyện cho mình đời sống tinh thần, nội tâm, trí tuệ, ý chí, tình cảm. Còn "Nhân Minh", "Thanh Minh", "Công Xảo Minh", "Y Phương Minh" đào luyện kiến thức và khả năng tổng quát. Suy rộng ra thì trong "Nội Minh" đã bao trùm 5 Minh và chính "Nội Minh" là quan trọng nhất, là căn bản nhất.

Với lý thuyết Ngũ Minh, người Huynh trưởng có một đường hướng rõ rệt mà đường hướng đó được soi sáng bởi giáo lý Phật Đà trên mọi lãnh vực sinh hoạt.

Ghi chú:

(1) Thù diệu là đẹp một cách đặc biệt.

(2) Một người mù dẫn đoàn người mù.

(3) Nói "đạo Phật là đạo nhập thế chứ không phải yếm thế" là thuận tánh người đă chấp chặt mà nói. Nói cho đúng thì đạo Phật là đạo "Vô Dục" là đạo Sống. Đã Vô dục, đã là đạo Sống, tức tình thương trọn vẹn thì có gì mà người Phật tử lại không làm. Làm hết mọi chuyện, tức là tương quan chặt chẽ với đời. Nhưng làm hết mà làm "Vô Dục", làm việc chính đáng, tức là không bị đời lôi cuốn, không bị đời làm ô nhiễm. Như vậy là Đời mà khác Đời.

(4) Sự sống trọn vẹn thì bao giờ cũng "nhập thế" mà bao giờ cũng "xuất thế". Bi là nhập thế, Trí là xuất thế. Việc làm có Bi có Trí mới là việc làm theo hướng Phật giáo. Đây là lý luận, còn sự thể hiện sao cho độ thể nhập giáo của mỗi chúng ta, không một ai chứng minh hay làm thay cho ai được, với cái sự thực "nhập vào đâu cho được và xuất đi đâu cho khỏi".

Tài liệu tham khảo:

- "Ngũ minh" của Cố TT Thích Thiện Hoa (trong tập san PGVN)

- Kinh Pháp Cú - Tăng chi bộ kinh. Góp ý của ĐĐ Thích Giác Viên, CR.

---o0o---

 

 Ðại Cương Phật Pháp ^Mục Lục

 1.  Dẫn Nhập

Sau khi thành đạo, đức Thế Tôn nhận thấy các nguồn tư tưởng cũng như sự hiện diện của các tôn giáo đương thời đã không giải quyết được gì cho con người và xã hội. Ngài muốn đem giáo pháp mà Ngài đã chứng khai thị cho chúng sanh thoát khỏi khổ đau, đi đến an vui hạnh phúc thật sự. Nhưng giáo lý của Ngài quá thâm sâu, căn cơ chúng sanh cũng khó tiếp nhận, song rồi Ngài cũng quyết định hoằng hóa cứu độ chúng sanh.

Ðầu tiên Ngài đến rừng Lộc Uyển thuyết pháp cho 5 anh em ông Kiều Trần Như, trước đây Ngài đã có lần cùng tu với các vị này nhưng sau đó Ngài thấy cách tu ấy không thể nào đưa đến giải thoát khổ đau. Sau khi nghe pháp 5 anh em đều giác ngộ. Rồi suốt 49 năm không những Ngài đi khắp các miền Ấn Ðộ để thuyết pháp giáo hóa mà còn thuyết giảng cho hàng Chư Thiên nữa. Những lời chỉ dạy của Ðức Phật đại cương như sau.

2. Ðại Cương Phật Pháp:

Nói đến giáo lý (tức là Phật Pháp) thì rất là nhiều, đến 8 vạn bốn ngàn pháp môn. Vì đức Phật tại thế, Ngài tùy trình độ, tùy căn cơ của chúng sanh để thuyết giảng. Giáo lý ấy gồm 3 tạng kinh điển:

·  Kinh (những lời đức Phật Thích Ca đã nói khi tại thế),

·  Luật (những giới luật mà Ðức Phật chế ra cho các hàng Phật Tử xuất gia và tại gia tu tập),

·  Luận (do các đệ tử của Phật - các vị tổ - làm ra để bàn giải rõ ràng những nghĩa lý mầu nhiệm).

Ba tạng kinh điển đó lại nằm trong hai Ðại Tạng: Ðại tạng Bắc tông (quen gọi là Ðại Thừa) và Ðại tạng Nam Tông.Về sau người ta còn phân ra Ðại Thừa và Tiểu Thừa. Ðại Thừa là cổ xe lớn chở được nhiều người. Tiểu Thừa là cổ xe nhỏ chỉ chở được một người. Sở dĩ chia ra như vậy vì căn cơ nguyện vọng của chúng sanh không đồng nhau. Những người nào nhận thấy mình chỉ đủ sức giải thoát riêng cho mình thì đi cổ xe nhỏ. Những người nào cảm thấy giải thoát cho mình mà còn có thể giải thoát, cứu độ cho nhiều người khác và có hạnh nguyện lợi tha thì dùng cổ xe lớn. Phật Pháp tuy nhiều như vậy nhưng chủ yếu là: cho ta thấy rõ sự khổ đau của cuộc đời, nhưng không phải để bi quan chán nản, thất vọng mà để tìm cho ra nguyên nhân khổ đau.

Sau khi Phật Pháp đã cho ta thấy được nguyên nhân của khổ đau thì Phật Pháp lại giới thiệu cho ta cái cảnh giới an vui tự tại. Nhưng không phải để van xin sự cứu rỗi của Thượng Ðế hay một vị thần linh nào cho ta tới cảnh giới an vui mà Phật Pháp chỉ cho ta con đường đi đến an vui giải thoát. Không ai cứu rỗi được chúng ta mà phải tự mình cứu lấy mình. Biện pháp chính có tám điều (sẽ học kỹ trong bài Bát Chánh Ðạo).

·  Thuộc về nhận thức, về trí tuệ:

  • Hiểu biết đúng đắn.

  • Suy nghĩ đúng đắn.

·  Thuộc về đạo đức, luân lý, về lời nói, việc làm:

  • Nói lời đúng đắn.

  • Hành động đúng đắn.

  • Làm ăn sinh sống đúng đắn.

  • Siêng năng,phấn đấu khắc phục khó khăn một cách đúng đắn.

·  Thuộc về định tâm:

  • Chú ý, chú tâm tưởng niệm đúng đắn.

  • Tập trung tư tưởng đúng đắn.

Tám cách, nói đúng hơn là con đường có tám ngành để đi đến an vui giải thoát, này có thể nhóm lại thành ba nhóm:

  1. Giới: Ðạo đức, luân lý, thực hành qua lời nói, hành động.

  2. Ðịnh: Ðịnh tâm, thực hành qua phép quán tưởng thiền định.

  3. Huệ: Nhận thức, trí tuệ.

Ba nhóm này hổ tương lẫn nhau, có trí tuệ nhận thức đúng đắn mới thấy được giới luật là cần thiết, mới nghiêm trì giới luật. Có nghiêm trì giới luật thì tâm không buông lung, việc định tâm mới dễ dàng. Có định tâm thì trí tuệ mới phát chiếu (ví dụ: khi định tâm thì học bài mau thuộc dễ nhớ, còn khi để tâm buông lung thì học bài khó nhớ, lâu thuộc).

Phật Pháp còn cho ta thấy rõ sự biến đổi vô thường của vạn vật (trong đó có cả con người): vô thường. Ðạo Phật cũng nêu rõ vũ trụ quan: "Duyên khởi". Mọi sự mọi vật, mọi hiện tượng (nói rộng ra là cả vũ trụ) đều do nhiều yếu tố tương quan với nhau mà thành chứ không thể tự nhiên mà có và cũng không phải do một ai sinh ra, nếu một nhân hay một duyên nào thay đổi thì sự vật, hiện tượng đó cũng thay đổi. Và một nhân sinh quan "Nghiệp báo  con người không phải chết là hết mà là sự chuyển biến để rồi trở lại sống một kiếp khác. Sinh tử chỉ là giai đoạn chuyển biến của một chuổi dài luân hồi. Như thế, mọi hành động có ý thức (nghiệp) đều là nhân và là những gì ta nhận lấy trong kiếp sống của mình là quả và cứ thế nhân quả trùng trùng.

Vậy cuộc đời chúng ta do nghiệp nhân của chúng ta tạo ra chứ không có một đấng thần linh nào ban ơn giáng họa . Muốn an vui ta không phải cầu xin mà có, mà ta phải tạo lấy những nghiệp nhân "Thiện" để hưởng quả lành. Chúng ta không bao giờ buông xuôi tay cho số phận, trái lại cuộc đời chúng ta do chúng ta quyết định (sẽ được học kỹ trong bài nhân quả Nghiệp Báo).

3. Kết Luận:

Qua bài này, chúng ta đã có cái nhìn tổng thể toàn bộ giáo lý của đạo Phật, nắm được những nét rất đại cương. Trong chương trình tu học của HT, chúng ta sẽ đi sâu vào từng vấn đề một để tìm hiểu tường tận hơn./.

Câu hỏi:

  1. Mục đích của Phật Pháp là gì?

  2. Kể tên những vị đệ tử đầu tiên của đức Phật tại vườn Nai.

  3. Kinh là gì? Kể vài tên Kinh mà Anh / Chị đã đọc.

  4. Tam tạng Kinh điển là gồm những gì?

  5. Tại sao sau Phật Niết bàn, Tăng Ðoàn chia thành hai phái Ðại thừa (Ðại Chúng bộ) và Tiểu thừa (Thượng Tọa bộ)?

  6. Nghiệp là gì? Tại sao nói: "hạnh phúc hay đau khổ là ở trong tay ta"?

  7. Phân biệt "biệt nghiệp" và "cộng nghiệp" - "y báo" và "chánh báo"

  8. Ðịnh nghĩa "Vũ trụ quan" Câu nói: "vũ trụ quan của Phật giáo là Duyên khởi" là có ý nghĩa như thế nào? Anh / Chị hãy giải thích câu nói ấy với những ví dụ cụ thể để nói về vũ trụ quan của Phật giáo .

  9. Giới là gì ? Công dụng của Giới?

  10. Theo ý kiến của Anh / Chị , bài học này đã đầy đủ chưa? Cần đưa thêm vào / bỏ bớt ra những vấn đề gì / những phần nào? Lý do?

---o0o---

 

Mục Ðích Phật Pháp ^Mục Lục

 

Mục đích của GÐPT là đào tạo những phật tử chân chính và cải tạo đời sống theo tinh thần Phật giáo. Nhưng lấy gì để đào tạo? Dựa vào đâu để cải tạo? Là huynh trưởng, mang trách nhiệm giáo dục các em chúng ta phải nắm vững vấn đề này hơn ai hết. Dĩ nhiên là lấy Phật Pháp để đào tạo, dựa vào Phật pháp để cải tạo. Vậy chúng ta phải thông suốt mục đích của Phật pháp thì việc tu học của bản thân và giáo dục các em mới đúng hướng. Nhưng trước khi tìm hiểu mục đích của Phật Pháp ta cũng cần biết Phật Pháp từ đâu mà hình thành?

        1. Sự hình thành Phật Pháp:

Phát xuất từ lòng thương vô biên của Thái tử Tất Ðạt Ða, khi thấy chúng sanh quằn quại trong đau khổ, trong sự giành giựt cấu xé nhau để mưu cầu sự sống, trong đau đớn thảm khốc của già yếu bệnh tật, chết chóc. Tình thương rộng lớn ấy khiến thái tử phải suy tìm cho ra nguyên nhân khổ đau và phương pháp diệt trừ đau khổ. Qua thực nghiệm, tu hành, lòng từ bi càng mở rộng, công năng tu tập càng lớn lao vượt qua những cam go chướng ngại thì trí tuệ càng phát chiếu sáng ngời. Ðến lúc thái tử tập trung tư tưởng, chuyên tu thiền định thì trí tuệ càng sáng chói tuyệt đối (gọi là trí tuệ Bát Nhã), nhìn rõ được nguyên nhân đau khổ và phương pháp diệt trừ nó. Tức là đã tu chứng giác ngộ, đạt quả vị Phật (sẽ được rõ hơn qua bài 'Cuộc đời đức Phật') Phật pháp được hình thành qua công năng tu chứng giác ngộ ấy. Vậy ta phải hiểu rằng: Ðức Phật không phải là đấng thượng đế tối cao hay vị thần linh nào cả mà chỉ là một con người. Nhưng con người đã giác ngộ và giải thoát, nên vượt lên trên tất cả. Như vậy, đạo Phật không phải là đạo thần quyền thì người theo đạo Phật không phải cốt mong sự cứu rỗi. Do đó, lời dạy của đức Phật (Phật Pháp) không phải là những giáo điều bắt tín đồ phải tuân theo để được sung sướng, để được an vui như những tôn giáo khác mà Phật Pháp chỉ là những lời truyền đạt kinh nghiệm tu chứng của một con người đã hoàn toàn giác ngộ. Ðức Phật đã mở rộng con đường tu tập cho mọi người. Ngài không đứng trên mây cao vút, tuyệt đối của an lạc mà nhìn chúng sanh quằn quại trong bể khổ trầm luân để rồi độc quyền ban phát những ân huệ. Ðức Phật dìu dắt chúng sanh lên đỉnh cao của an lạc ấy, để ai cũng trở thành Phật cả (nếu biết theo đúng lời dạy của Ngài). Ðức Phật đã từng nói trong những lúc thuyết pháp: "Ta là Phật đã thành chúng sanh là Phật sẽ thành".

        2. Phật pháp có phải là một hệ thống học thuyết không?

Phật pháp cũng là một hệ thống học thuyết. Nhưng như đã nhận định trên thì ta có thể khẳng định rằng: Phật pháp khác hẳn các học thuyết cổ kim, cả về căn bản lẫn danh từ và văn tự. Cho nên chớ đem từ ngữ học thuyết khác mà thay cho Phật Pháp.

        3. Sau khi Phật Pháp đã cho ta thấy được nguyên nhân của khổ đau thì Phật Pháp lại giới thiệu cho ta cái cảnh giới an vui tự tại. Nhưng không phải để van xin sự cứu rỗi của Thượng Ðế hay một vị thần linh nào cho ta tới cảnh giới an vui mà Phật Pháp chỉ cho ta con đường đi đến an vui giải thoát. Không ai cứu rỗi được chúng ta mà phải tự mình cứu lấy mình.

        4. Mục đích của Phật Pháp:

Trong bài trước chúng ta hiểu đại cương Phật Pháp, đến đây chúng ta lại thấy được sự hình thành Phật Pháp thì chúng ta cũng thấy mục đích của Phật Pháp là đưa con người từ khổ đau đến an vui, từ mê lầm đến giác ngộ, từ chỗ trói buộc phiền não đến chỗ giải thoát tự tại. Nếu nhận định đúng cuộc đời là vô thường biến dịch không ngừng, là khổ đau chồng chất, vì vô minh mê lầm, cái "Ta" cũng không tồn tại, là uế nhiễm, là vọng động, (Bài Ðại Cương Phật Pháp) thì mục đích của Phật Pháp là:

·  a. Ðưa chúng ta đến "chơn thường". Người tu hành để đạt đến quả vị là không bao giờ bị luật vô thường chi phối. (sẽ được học kỹ ở các bậc sau).

·  b. Ðưa chúng ta tới "chơn lạc", sự an vui trọn vẹn và bất tận.

·  c. Ðưa chúng ta tới "chơn ngã". Người tu hành được giải thoát hoàn toàn ra khỏi những trói buộc, làm cho con người đày đủ năng lực để thực hiện ý nguyện tốt đẹp của mình.

·  d. Ðưa chúng ta tới "chơn tịnh".

Người tu hành gạn lọc được bao nhiêu ô trọc của cuộc đời để sống một cuộc sống trong trắng tinh khiết không vướng chút bợn nhơ của trần tục, được an nhiên tự tại. Nếu nhìn sự tác dụng thực tiễn mà nói, thì Phật Pháp với căn bản Từ Bi, làm cho nhân loại yêu thương nhau hơn. Nhờ ánh sáng trí tuệ, làm cho nhân loại bớt si mê lầm lạc. Thấy được đâu là giá trị thật, đâu là lừa dối. Nhờ tinh thần bình đẳng tuyệt đối của đạo Phật, Phật Pháp san bằng những bất công của xã hội, của nhân loại, và làm cho cảnh giới Ta Bà được hòa vui trong tình nhân loại đại đồng. Nếu nói cô đọng lại thì mục đích Phật Pháp là diệt trừ tham dục vì tham dục là cội gốc chính của đau khổ mê lầm. Kinh Dhammapada (Pháp Cú) có nói: "những người say đắm theo dục, tự lao mình trong lưới buộc như nhện giăng tơ. Ai dứt được sự buộc ràng, không còn dính mắc nữa thì sẽ xa mọi tiếng khổ để ngao du tự tại." (câu 347) Nói tóm lại, mục đích của Phật Pháp là đưa Ðạo vào Ðời "khai thị chúng sanh" để chúng sanh được "ngộ nhập Phật tri kiến".

        5. Học Phật Pháp như thế nào? Ðã rõ mục đích của Phật Pháp thì ta nên học Phật Pháp như thế nào?

  1. Người Phật tử đã có ý thức được đạo Phật là đạo của Từ Bi, đạo giải thoát những con người đau khổ mà không trông chờ một sự cứu rỗi nào thì chúng ta học Phật Pháp với tâm niệm mong tìm hạnh phúc riêng mình, cầu sự an ổn cho mình, giải quyết cái chết cho mình ... là hoàn toàn trái với Phật Pháp. Ta không nên chỉ nghỉ đến lợi ích riêng mà còn phải nghĩ đến những ngườI, những chúng sanh đang đau khổ xung quanh mình (chúng ta thường nguyện trước bàn thờ; "Từ Bi gia hộ cho chúng đệ tử tâm Bồ Ðề vững chắc, tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, cùng chúng sanh trong Pháp giới tội chướng tiêu trừ, căn lành tăng trưởng, một thời đồng chứng Vô Thượng chánh đẳng, chánh giác").

  2. Là Phật tử, chúng ta phải học Phật Pháp không chỉ bằng lý thuyết mà còn học qua đời sống, qua đức hạnh, qua hành động của đức Phật nữa.

  3. Học Phật Pháp không phải là học suông, học phải suy nghĩ để hiểu rốt ráo. Hiểu để thực hành thấu đáo và tự mình tu chứng.

  4. Một điều cần thiết nữa, như ta đã biết, Phật Pháp khác hẳn với các học thuyết khác, vậy đừng nên lệ thuộc vào từ ngữ mà ta thường gặp để hiểu Phật Pháp một cách nông cạn, hoặc hiểu Pháp qua học thuyết khác. Chẳng hạn như chữ "Nghiệp" cũng tương đồng với chữ "động tác" nhưng chữ động tác không thể mang cái nghĩa hành động có ý chí, có tính cách chữ "nghiệp". Chữ "quán đãi", nếu chỉ hiểu qua thì ai cũng tưởng tương đồng như chữ "đối đãi" nhưng sự đối đãi chỉ là do ý niệm. Chữ "thị hiện" trong đạo Phật cũng khác xa chữ "giáng sanh" của các tôn giáo khác. Chữ "Tự Giác", "Giác Ngộ" mà chúng ta thường dùng ngoài đời với chữ "tự giác", "giác ngộ", trong đạo Phật cũng khác nhau xa. Còn những chữ "vọng động", "chơn như" v.v. . . Thì phải đi sâu vào Phật Pháp mới hiễu đúng đắn được. Vậy ta phải hiểu đúng đắn từ ngữ Phật giáo để hiểu vấn đề không sai lệch.

Câu Hỏi:

  1. Phật Pháp là gì? Phật Pháp có phải là một hệ thống học thuyết như những học thuyết khác không? Ðiểm khác biệt giữa Phật Pháp và các học thuyết khác ?

  2. Ðại Cương Phật Pháp gồm những vấn đề gì? Hãy trình bày.

  3. Mục Ðích Phật Pháp là gì?

  4. Có người nói: Phật Pháp là pháp ly dục, có đúng không? (dùng kiến thức đã học để chứng minh)

  5. Người HT học Phật Pháp như thế nào?

  6. Như ta đã biết, Phật dạy: "đời là khổ, mọi sự vật hiện tượng đều vô thường, cảm thọ là khổ". Thế nhưng hôm nay chúng ta lại được biết "thường, lạc, ngã ,tịnh" (phần 3 của bài). Như vậy Anh/Chị có nghĩ là có chỗ mâu thuẩn trong Phật Pháp hay không? tại sao?

  7. Tương tự, đức Phật dạy: "Ta là Phật đã thành, các con là Phật sẽ thành". Mặt khác, Ngài cũng nói: "Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh". Thiền sư Bankei lại thêm: "Phật tánh ở nơi đức Phật không tốt hơn cũng không xấu hơn Phật tánh ở mỗi chúng sanh". Theo Anh/Chị hai điều này có mâu thuẩn nhau không? hãy giải thích.

 ---o0o---

 

Quy Y Tam Bảo ^Mục Lục

 A. Dẫn nhập:
     Một đứa con khờ dại hư đốn lìa bỏ cha mẹ đi hoang, sống đời phiêu bạt lang thang. Một phút giây nào đó, hồi tỉnh muốn quay về sống trong sự ấp ủ yêu thương của cha mẹ. Sự quay về này chính là thái độ tỉnh giác, dứt khoát làm lại cuộc đời, một cuộc đời tươi sáng trong tình thương và sự dìu dắt của cha mẹ. Tất cả chúng ta cũng là những đứa con phiêu lãng ấy, lâu nay chưa nhận ra được sự khờ dại của mình, mãi miết lang thang, đắm chìm trong chốn khổ đau. Biết chăng có người hằng thương yêu chúng ta, hằng mong mõi đưa chúng ta đi trên con đường tươi sáng không vướng bận phiền não đau thương. Phút chốc, tỉnh giác muốn trở về với NGƯỜI, hoặc có kẻ thức tỉnh chúng ta để chúng ta quay về nương tựa NGƯỜI. Ðó chính là sự QUY Y.

B. Chánh đề:
      I. Quy y:

  1. Thế nào là quy y? Quy là trở về, Y là nương tựa. Quy y là trở về nương tựa.

  2. Quay về nương tựa đâu? Quay về với cội nguồn của mình. Quay về với người hằng yêu thương mình, yêu thương tất cả chúng sanh, muốn dẫn dắt chúng sanh đi vào con đường tươi sáng, hạnh phúc.

  3. Vì sao chúng ta phải quay về? Chúng ta sống đầy mê mờ, dục vọng; đang lặn hụp trong chốn bùn nhơ, trôi lăn trong đau thương phiền não. Mà bản thể chúng ta từ vô thủy vốn thanh tịnh sáng suốt nhưng vì vô minh, vọng tưởng nên bị quay cuồng trong sanh tử đau thương. Chúng ta phải quay về với cội nguồn của chúng ta, quay về với ba ngôi quý báu nhất, gọi là Tam Bảo, mà lâu nay chưa biết đến.

     II. Tam bảo:

1. Thế nào là Tam Bảo? Tam bảo là ba ngôi quý báu tột bực quý hơn cả những gì quý báu nhất của thế gian (vàng bạc, ngọc ngà, danh vọng...) Vì những gì quý báu nhất của thế gian đâu có cứu được con người ra khỏi khổ não đau thương. Chỉ có ba ngôi này mới dìu dắt được con người, đưa con người thoát khỏi khổ đau. Ba ngôi đó là:

a. Phật: Tiếng phạn bà Bouddha, Tàu dịch là Giác giả là bậc vô cùng sáng suốt, hoàn toàn dứt hết dục vọng, dứt hết tham sân si nên an lạc trọn vẹn gọi là "tự giác". Ngài đem sự giác ngộ ấy tuyền đạt lại cho mọi người để mọi người thực hành, để ai cũng được an lạc như Ngài, gọi là "giác tha". Cả hai công hạnh ấy Ngài đã thực hiện một cách tích cực và trọn vẹn, gọi là "giác hạnh viên mãn". Nói gọn lại, đức Phật là bậc Tự giác, Giác tha, Giác hạnh viên mãn. Người đời còn tôn xưng là đấng Ðại Giác. Chỉ có đức Phật mới dẫn dắt chúng ta ra khỏi đau khổ phiền não nên Phật là ngôi quý báu nhất.

b. Pháp: Tiếng Phạn là Dharma, phương pháp tu hành mà Phật đã dạy để trừ bỏ dục vọng. Là những chân lý mà Ngài đã chứng ngộ được (như Tứ đế, Vô Ngã, Vô Thường, Duyên Sinh...). Pháp gồm có:

  1. Kinh: Là lời của đức Phật (hoặc các vị Bồ tát vâng lệnh theo lời Phật mà nói), như Kinh Bát Nhã, kinh Lăng Nghiêm ...

  2. Luật: Là những giới luật do đức Phật chế ra cho các thành phần xuất gia, tại gia, vâng theo đó mà tu tập, như 5 giới của Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, 10 giới của Sa di, 250 giới của Tỳ kheo, 348 giới của Tỳ Kheo Ni v.v...

  3. Luận: Là lời luận giải về kinh điển của các vị Tổ sư, nói rộng các yếu nghĩa trong kinh cho chúng ta dễ hiểu. Như Luận Khởi tín, Luận Nhân Minh v.v...

     Nhờ Pháp mà chúng ta hiểu được chơn lý, vận dụng để tu tập, trừ khổ được vui, dần dần chứng ngộ, giải thoát nên Pháp là quý nhất trên đời.

c. Tăng: Nói cho đủ là Tăng già, tiếng Phạn là Shanga, Tàu dịch là Hòa hợp chúng; là một đoàn thể xuất gia tu hành theo đạo Phật, gồm 4 người trở lên sống theo 6 phép hòa kính (Lục Hòa).
     Ðây là một tập thể cách ly gia đình, sống theo lời Phật dạy, giữ gìn giới luật, oai nghi, luôn luôn nghiên cứu kinh điển, làm gương sáng cho mọi người. Nhờ quý vị này mà giáo lý của đức Phật (Pháp) được bảo tồn và cũng chính nhờ những vị này truyền lại giáo lý cho chúng ta sau khi đức Phật nhập diệt. Như vậy, chính nhờ quý vị Tăng già mà ta mới biết được Phật, biết được Pháp; biết được con đường giải thoát giác ngộ. Cho nên Tăng là ngôi quý báu nhất đối với chúng ta, những người thiết tha với sự tu tập giải thoát.

2. Các định danh Tam bảo:
     a. Ðồng thể Tam bảo: Mỗi chúng sanh đều có bản tánh thanh tịnh, sáng suốt; đều có khả năng giác ngộ, gọi là Phật tánh. Nhưng vì vô minh che lấp nên Phật tánh không thể hiện ra được. Vì mỗi chúng sanh đều có Phật tánh nên chúng sanh cùng như chư Phật đồng chung một thể tánh, gọi là "Ðồng thể Phật bảo". Các giáo pháp không phải đức Phật đặt ra mà đó là chơn lý đức Phật chứng ngộ. Ðó là một thực tế hiển nhiên mà trí tuệ đức Phật đã nhìn thấy, thực tế đó là mọi sự vật, mọi hiện tượng trong vũ trụ, trong thế gian này, gọi là thế gian pháp. Chính từ thế gian pháp này làm đối tượng tư duy mà đức Phật đã giác ngộ chân lý nên người ta cũng thường nói: "Phật pháp bất ly thế gian pháp". Mỗi chúng sanh cũng là một trong vạn pháp của thế gian. Vì vậy, chúng sanh cũng là "Ðồng thế gian pháp bảo". Ngày xưa, đức Phật cùng với Tăng chúng cũng sống trong lục hòa, đức Phật cũng là một vị Tăng già. Mỗi chúng sanh nếu xuất gia nghiệm thi giới luật dòng tam lục bảo cũng là một vị tăng già, tất cả chúng sanh cùng đức Phật đồng một thế gian thì chúng sanh cũng là "Ðồng thế Tăng bảo".
     b. Xuất thế gian Tam bảo: Ðức Phật Thích Ca cũng như chư Phật trong mười phương đã tự giải thoát ra khỏi sự ràng buộc của thế gian, gọi là "Xuất thế gian Phật bảo". Chánh pháp của đức Phật có công năng làm cho chúng sanh thoát khỏi sự ràng buộc của thế gian nên gọi là "Xuất thế gian Pháp bảo". Các vị Thánh Tăng đã chứng ngộ thoát ra ngoài sự ràng buộc của thế gian như đức Quán Thế Âm, đức Văn Thù v.v... gọi là "Xuất thế gian Tăng bảo".
     c. Thế gian trụ trì Tam bảo: Tức là Tam bảo hiện có trong thế gian.

·  Thế gian trụ trì Phật bảo: Xá lợi của Phật, các tượng Phật đúc hoặc vẽ...

·  Thế gian trụ trì Pháp bảo: Ba tạng kinh điển, in chép bằng sách, vở hiện có trong thế gian.

·  Thế gian trụ trì Tăng bảo: Chư vị Tỳ Kheo chân chánh, giới luật trang nghiêm hiện tại.

3. Sự tướng quy y Tam bảo: Sau khi hiểu rõ ý nghĩa quy y Tam bảo và nhận thấy cần có sự "quy y" tức là nguyện trở về nương tựa vào Phật Pháp Tăng để thăng hoa cuộc sống của chúng ta, để tu tập đi dần đến giải thoát giác ngộ, thì chúng ta cũng phải có buổi lễ đánh dấu biến chuyển lớn trong cuộc sống chúng ta, tức là "Lễ Quy Y".
     Chúng ta chọn một vị Tăng giới hạnh trang nghiêm, uyên thâm giáo pháp làm bổn sư cho chúng ta. Vị này chủ trì buổi lễ quy y. Trong buổi lễ quy y, chúng ta có phát nguyện: "Ðệ tử phát nguyện: Trọn đời quy y Phật, Trọn đời quy y Pháp, Trọn đời quy y Tăng". Tiếp đó, cũng phát nguyện một cách thành khẩn:

·  Ðệ tử quy y Phật, nguyện trọn đời không quy y Thiên thần, quỷ vật.

·  Ðệ tử quy y Pháp, nguyện trọn đời không quy y ngoại đạo tà giáo.

·  Ðệ tử quy y Tăng, nguyện trọn đời không quy y tổn hữu, ác đảng. (Thường kèm với lễ quy y có thọ trì 5 giới).
     Sau khi phát nguyện quy y thì hằng ngày phải nhớ đến lời phát nguyện của mình: Luôn nhớ nghĩ đến đức Phật, nhớ nghĩ đến công hạnh của Ngài. Phải chí tâm lễ bái. Hàng ngày tụng đọc kinh, luật, luận (Luật ở đây là 5 Giới mà chúng ta đã phát nguyện thọ trì), luôn luôn học hỏi, suy gẫm giáo lý. Và cốt nhất là phải thực hành giáo lý trong cuộc sống của chúng ta. PHẢI TỤNG GIỚI (TẬP THỂ HAY CÁ NHÂN) MỖI THÁNG 1 HAY 2 LẦN. Chúng ta phải tôn kính chư Tăng. Hằng ngày tới lui thăm viếng các vị bổn sư của chúng ta, có điều gì vướng mắc trong cuộc sống cũng nhờ vị bổn sư chỉ dạy để có những ứng xử hợp giáo pháp. Những thắc mắc về giáo lý, nhờ vị bổn sư giảng giải để hiểu được tường tận. Xem vị bổn sư như người cha tinh thần của chúng ta. Chúng ta phải cúng dường chư Tăng (hay ít ra là vị bổn sư chúng ta) những phẩm vật, thuốc men hay đồ dùng để chư Tăng có đủ phương tiện tu hành.

4. Lý tánh của quy y Tam Bảo: Tinh tấn làm những công việc trên hàng ngày cũng chưa đủ, ta cần luôn tự nhắc cho mình ý nghĩa của quy y Tam bảo và luôn luôn nhớ về "Ðồng thế Tam bảo". Như trong "Ðồng thế Tam bảo" ta đã thấy rõ: Tam bảo đều có trong mỗi chúng ta, vì vô minh che lấp, chúng ta mãi đuổi theo dục vọng, sống cuộc sống đầy tham, sân, si. Vậy, quy y Tam bảo cũng còn có ý nghĩa quay trở về với tự tánh của chúng ta.
     Tự quy y Phật: Tự trở về với Phật tánh của mình. Mỗi khi những đám mây vô minh được quét sạch thì mặt trăng trong sáng của Phật tánh sẽ được hiện rõ.
     Tự quy y Pháp: Trong tâm ta cũng có đủ các Pháp (cụ thể như từ bi, trí tuệ, tinh tấn, hỷ xả v...) ta trở về với bản thể của chúng ta, phát huy những pháp tánh hằng có ấy trong mỗi chúng ta, lại nữa, những giáo pháp mà chúng ta đã học đã hiểu thì giáo pháp đó đã khắc sâu trong tâm chúng ta, chúng ta luôn luôn đem thực hành trong đời sống.
     Tự quy y Tăng: Trở về nương tựa ông thầy trong tâm chúng ta. Tăng già là thể hiện sự hòa hợp, thanh tịnh, tự tại. Trong tâm chúng ta cũng sẵn có nhưng vì mê mờ chúng ta không thấy được, nay nhờ đức Phật chỉ dạy, ta mới trở về nương tựa ông thầy gần gũi ta nhất.

C. Kết luận: Chúng ta đã hiểu ý nghĩa của Quy Y Tam Bảo, chúng ta cũng đã nhận thức được. Chỉ có nương tựa vào Tam bảo mới có thể thăng hoa cuộc sống, mới có thể giải thoát được khổ đau, tiến dần đến an vui, tự tại thì người Phật tử chúng ta phải quy y Tam bảo, nhưng phải đủ cả Lý lẫn Sự. Không nên hoàn toàn chỉ quy y Tam bảo bên ngoài mà quên mất Tam bảo của tự tâm chúng ta, nhưng cũng không vì thế mà rơi vào tự tôn, nếu tự tôn thì cũng gần kề với ngã mạn và ngã mạn cũng lại là cái lưới vô minh đưa chúng ta trong trầm luân thống khổ.

Câu hỏi:

1.      Tại sao phải làm lễ quy y? Mục đích của lễ quy y là gì?

2.      Tại sao chúng ta phải quay về nương dựa Tam Bảo? Cái gì đã đưa chúng ta vào phiền não?

3.      Phân biệt Quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng với Tự quy y Phật, tự quy y Pháp, tự quy y Tăng?

4.      Lý tướng và sự tướng khác nhau thế nào? Theo anh chị thì tướng nào quan trọng hơn? Giải thích?

---o0o---

 

Ngũ Giới ^Mục Lục

 

 A. Ðịnh nghĩa:

Ngũ giới là năm điều răn cấm mà đức Phật đã chế ra, để ngăn những ý tưởng ác, nói năng chẳng lành, hành động bất chánh. Năm điều răn ấy là:

  1. Không được giết hại.
  2. Không được trộm cắp.
  3. Không được tà dâm.
  4. Không được nói dối.
  5. Không được uống rượu.

Sự giữ Giới hay không giữ Giới là hoàn toàn do chúng ta tự liệu lấy. Ðạo Phật khác với các tôn giáo khác chính là ở điểm: Ðức Phật không phải là một quan Tòa tối cao giữ quyền thưởng phạt. Một ý nghĩ, một lời nói, một hành động tốt hay xấu chính đã mang theo nó một cái mầm thưởng phạt rồi. Ðức Phật chỉ là một vị dẫn đường rất từ bi và rất sáng suốt. Ngài chỉ cho chúng ta con đường nào là con đường sáng và con đường nào là con đường tối nguy hiểm không nên đi. Nếu chúng ta không theo con đường sáng mà lại mù quáng đi vào con đường tối tăm nguy hiểm thì tất nhiên chúng ta sẽ gặp tai họa, chứ Phật không tạo ra tại họa để trừng phạt chúng ta.
     Năm giới chính là năm thành trì ngăn chận cho ta đừng đi lạc vào đường ác, là năm hàng rào ngăn chận cho ta khỏi rơi xuống vực sâu, trong khi ta đi trên đường giải thoát.

A. Năm giới:

     1. Không được giết hại: Ðiều răn cấm thứ nhất mà Phật khuyên chúng ta là không được giết hại sinh mạng từ loài người cho đến loài vật, sinh mạng có một giá trị quý báu, nhất là mạng người; giết sinh mạng kia để bồi dưỡõng sinh mạng này là không hợp lý, là một điều ác. Phật giáo cấm sát sanh bởi nhiều lý do:

·  a. Tôn trọng sự công bằng: Chúng ta ai cũng coi sinh mạng mình là quý, là một của báu tuyệt đối. Nếu ai mưu hại là mình chống trả triệt để để bảo vệ sinh mạng. Mình đã quý trọng sinh mạng mình, tại sao lại chà đạp sinh mạng người khác? Phật dạy: " ... ai cũng sợ chết. Vậy nên lấy lòng mình suy lòng mình suy lòng người, chớ giết, chớ bảo giết".

·  b. Nuôi dưỡng lòng từ bi: Lòng từ bi của đức Phật xem mọi loài như con, nên Ngài không đồng ý cho đệ tử Ngài sát hại sanh vật, bất cứ trong trường hợp nào. Bởi vì đem tâm giết hại sinh mạng là lòng độc ác đã cao độ, tâm từ bi bị bóp chết. Nhẫn tâm vô cớ giết một con vật, tính bạc ác không kém giết một con người. Nghe tiếng kêu la của con vật, không nở ăn thịt nó, thấy nó sống không đành thấy nó chết. Vậy người có lòng từ bi không nở ăn thịt hay không nở giết hại người hay loài vật.

·  c. Tránh quả báo ứng oán căm thù: Khi giết một người hay một con vật, thì sự oán hận của họ tràn trề khó dập tắt được. Bởi vì có thể, vì yếu đuối nên bị ta giết hại. Hơn nữa gây nhân giết hại thì chỉ lấy quả báo bị giết hại.
     Lợi ích của sự không giết hại: Vì những lý do trên, đức Phật cấm đệ tử không giết hại, đồng thời không giết hại sẽ có những điều lợi sau đây:

·  a. Về phương diện cá nhân: Một người không tàn nhẫn sát nhân, hại vật, không độc ác làm đổ máu thì lòng không bức rức, hối hận, thân tâm được nhẹ nhàng thư thới, giấc ngủ được an lành, nét mặt được hiền hòa trong sáng.

·  b. Về phương diện xã hội: Nếu tất cả nhân loại trên thế giới đều giữ gìn đúng giới thứ nhất của Phật dạy thì chiến tranh sẽ không có mà các nghiệp sanh tử luân hồi cũng được giải thoát. Cho nên xưa có câu:"Nhất thiết chúng sanh vô sát nghiệp. Thập phương hà xứ động đao binh. Gia gia hộ hộ đồng ta thiện. Thiên hạ hà tư bất thái bình". Dịch nghĩa: Hết thảy mỗi chúng sanh không nghiệp sát. Mười phương nào có nỗi binh đao. Mỗi nhà mỗi chốn đều tu thiện. Lo chi thiên hạ chẳng thái bình.

     2. Không được trộm cắp: Ai cũng biết trộm cắp là lấy những vật thuộc quyền sở hữu của người khác, mà không có sự ưng thuận hay cưỡng ép người ta ưng thuận bằng võ lực hay quyền hành. Phật cấm trộm cắp vì những lý do sau đây:
     a. Tôn trọng sự công bằng: Chúng ta không muốn ai lấy của mình, tại sao mình lại chăm chăm muốn đoạt của người? Quyền sở hữu của ta, ta biết tôn trọng thì tại sao lại chà đạp lên quyền sở hữu của người? Làm như thế là trái lẽ công bằng. Một xã hội thiếu công bằng thì không thể tồn tại lâu dài.
     b. Nuôi dưỡõng lòng từ bi: Mỗi khi vô ý đánh mất một vật gì hay một số tiền, ta buồn khổ, ăn không ngon, ngủ không yên; tại sao ta lại nở nhẫn tâm lấy của người, để cho người khác phải khóc than, đau khổ vì ta? Không làm cho người khác đau khổ là nuôi dưỡng lòng từ bi.
     c. Tránh nghiệp báo oán thù: Trong xã hội có tổ chức, tôn trọng lẽ công bằng, thì tội trộm cắp bao giờ cũng bị trừng phạt. Khi bị bắt, kẻ trộm cướp phải tìm trăm phương ngàn kế để trốn thoát, sống chui rúc trong bóng tối. Khi bị bắt phải bị tra khảo, ngồi tù, nhốt khám. Phận mình đã đành cực thân, khổ trí; lại làm cho gia đình, cha mẹ, vợ con cũng buồn rầu khổ sở xấu hổ và mất hết cả hy vọng ở tương lai. Nếu không bị luật thế gian trừng trị, thì người trộm cắp cũng không tránh khỏi luật nhân quả nghiệp báo, không sớm thì muộn cũng bị mất cắp lấy trộm. Hơn nữa, Phật dạy: Người tham luyến sắc tài không chịu rời bỏ, cũng như đứa bé luyến tiếc một chút mật trên lưỡi dao, thè lưỡi liếm, phải bị cái họa đứt lưỡi (Kinh Tứ Thập Nhị Chương).
     d. Xây dựng xã hội thanh bình: Một xã hội không có kẻ cắp trộm, người người sống an ổn không phập phồng lo sợ là một xã hội thanh bình.

     3. Không được tà dâm: Tà dâm là muốn nói về sự dâm dục không đoan chính, luật dạy người xuất gia ly tục phải dứt hẳn dâm dục, còn người tại gia thì không được tà dục. Khi đã có cưới hỏi thì gọi là chính, ngoài ra lén lút, lang chạ, phi pháp gọi là tà. Nói một cách vi tế hơn, thì phàm những sự đam mê người khác phái, nghĩ ngợi bất chính, chơi bời lã lơi, cũng đều thuộc về loại tà dâm cả. Phật cấm tà dâm vì những lý do sau đây: Tôn trọng sự công bình, bảo vệ hạnh phúc gia đình, tránh oán thù và quả báo xấu xa. Lợi ích về sự không tà dâm:
     a. Về phương diện cá nhân: Kinh Thập Thiện nói, người thế gian không tà hạnh thì được hưởng 4 điều lợi ích: Sáu căn đều được vẹn toàn Trọn đời được người kính trọng Ðoạn trừ hết cả phiền lụy quấy nhiễu Cuộc tình duyên trọn đời không ai dám xâm phạm.
     b. Về phương diện xã hội: Trong một xã hội mà ai cũng không tà hạnh thì gia đình được yên vui, những sự luân thường bại lý sẽ tiêu tan, những cảnh thù hiềm chém giết không xảy ra, con cái được chăm sóc chu đáo, được hưởng tình thương trọn vẹn của cha mẹ, xã hội sẽ cường thịnh. Nói tóm lại, cõi ta bà ô trược, đau khổ này sẽ biến thành thế giới thanh tịnh an vui.

     4. Không được nói sai sự thật: Nói sai sự thật có 4 cách: Nói dối, Nói hai lưỡi, Nói thêu dệt, Nói lời hung ác.
     a. Nói dối hay nói láo là nói không thật, chuyện có nói không, chuyện không nói có, việc phải nói trái, việc trái nói phải, hoặc giả trước mặt khen tốt sau lưng chê mạt. Tóm lại, ý nghĩ với lời nói, việc làm với lời nói trước sau mâu thuẫn trên dưới khác nhau, trong ngoài bất nhất, đều thuộc về nói dối cả.
     b. Nói thêu dệt: là việc ít xít cho nhiều, làm cho người nghe nổi sân hận, hoặc trau tria lời nói, chuốt ngọt giọng hay cho êm tai mát dạ để cám dỗ người nghe; cũng có khi nói biếm, nói châm, nói chích làm cho người nghe phải khổ sở. Tóm lại, bao nhiêu lời nói không đúng nghĩa chân thật, thêm bớt, đều gọi là nói thêu dệt cả. br>     c. Nói hai lưỡi: Thành ngữ Việt Nam gọi là "Ðòn xóc nhọn hai đầu". Nghĩa là đến chỗ này thì hùa với bên này để nói xấu bên kia, đến bên kia thì hùa với bên kia để nói xấu bên này, làm cho bạn bè đang thân nhau trở lại chống nhau, oán thù nhau.
     d. Nói lời hung ác: Là nói những tiếng thô tục, cộc cằn, chưỡi rủa, làm cho người nghe phải đau khổ, buồn rầu, sợ hãi. Phật cấm nói sai sự thật vì những lý do sau đây:

·  a. Tôn trọng sự thật: Người theo đạo Phật phải tôn trọng sự thật. Người quen nói dối không thiết tìm sự thật thì khó có thể chứng quả được.

·  b. Nuôi dưỡng lòng từ bi: Cái động lực chính của sự nói dối là lòng ích kỷ, ác độc, muốn hại người để thỏa lòng dục vọng đen tối của mình. Người bị lừa dối sẽ chịu khổ vì mình, có khi phải mắc thù vương oán, có khi phải tan gia bại sản. Người tu hành như thế là đã tán tận lương tâm, không những đã bóp chết tình thương của mình mà còn làm đổ nát tình thương trong lòng người. Một khi lòng từ bi không còn nữa, sự chân thật không còn cần thiết nữa, nghĩa là động lực chính đã mất, thì sự tu hành chỉ còn là giả dối.

·  c. Bảo tồn sự trung tín trong xã hội: Trong một gia đình, một đoàn thể, một xã hội mà không ai tin ai thì mọi công việc từ nhỏ đến lớn đều thất bại và không thể nào sống hòa hợp với nhau.

·  d. Tránh nghiệp bào khổ đau: Lời nói tuy không phải là lưỡi kiếm, nhưng nó nguy hiểm hơn lưỡi kiếm, vì nó có hai mũi nhọn, một mũi đâm vào người khác, một mũi đâm vào chính mình.

     Phật dạy: "Phù sĩ xử thế phú tại khẩu trung, sở dĩ trảm thân do ký ác ngôn" (nghĩa là: Phàm kẻ ở đời, lưỡi quá bén nằm trong miệng, sở dỉ chém mình là do lời nói ác). Ðã đành nói ly gián, nói xuyên tạc là để hại người thì thế nào cũng hại lại mình. Ác lai ác báo là thế. Ðể tránh sự thù oán, chúng ta không nên dối trá, điêu ngoa. Lợi ích của sự không nói dối:
      a. Về phương diện cá nhân: Ðược người trọng nễ, tin cậy, không ai oán hận thù hiềm. Trong nghề làm ăn, người chân thật được nhiều thân chủ và được tin cậy giao phó cho nhiều trọng trách.
     b. Về phương diện quần thể: Gia đình, xã hội đoàn kết trong sự tin cậy, không ai oán hận thù hiềm, anh em thương yêu thông cảm nhau hơn.

     5. Không được uống rượu:  Tất cả những thứ có chất men làm say người hay chất độc hại người đều không được dùng. Chính mình không uống đã đành, mà cũng không được ép nài người khác uống. Ép nài, khuyến khích người khác uống tội lại nặng hơn cả chính mình uống nữa. Lúc lâm bệnh nặng, uống các thứ thuốc không lành. Thầy thuốc bảo phải dùng rượu hòa với thuốc, thì tạm dùng được, nhưng trước khi dùng phải bạch cho chúng Tăng biết. Khi hết bịnh, không được tiếp tục uống thuốc có hòa với rượu nữa. Phật cấm uống rượu vì những lý do sau đây:
     a. Bảo toàn hạt giống trí tuệ: Rượu còn nguy hiểm hơn thuốc độc. Một chén thuốc độc ta uống vào chết ngay, nhung chỉ chết một thân hiện tại, chớ uống rượu vào làm mất giống trí tuệ, phải chết đi sống lại vô số kiếp. Vì thế, để bảo tồn hạt giống trí tuệ quý báu, Phật cấm uống rượu. Chúng ta cũng thấy thực tế những người say rượu mất cả lý trí, nói xàm, nói bậy, hành động hung ác. Có khi đâm chém nhau.Ngày nay, khoa học cũng chứng minh rượu đốt cháy những tế bào thần kinh.
     b. Ngăn ngừa những nguyên nhân sanh ra tội lỗi: Uống rượu, chính nó không phải là một tội lỗi như sát sanh, trộm cướp, nhưng nó có thể làm động lực cho những tội lỗi nào cũng có thể phạm được. Dưới đây là một câu chuyện để chứng minh điều đó:

Một thanh niên nọ, không biết sao đã làm cho một hung thần phẩn nộ đòi giết anh ta. Anh ta van xin thần tha cho tội chết, vì anh còn một mẹ già không ai nuôi dưỡng, chàng sẵn sàng nhận lãnh một hình phạt khác. Vị hung thần bảo:
     " Vậy người phải về nhà giết mẹ ngươi, ta sẽ trả mạng sống cho ngươi." Anh ta van xin:
     "Con chỉ có một bà mẹ già yêu quý nhất trong đời. Mẹ con đã suốt đời khổ cực, hy sinh cho con. Làm thế nào con có thể giết được? Xin ngài cho một hình phạt khác. "
     "Ngươi hãy về nhà châm lửa đốt nhà ngươi."
     'Vậy thì mẹ con còn chỗ nào nương trú? Con thì không kể nhưng mẹ con già nua làm sao chịu nổi với sương gió năng mưa? Xin ngài ban ân, cho một hình phạt khác."
     "Bây giờ ta cho ngươi một hình phạt rất đơn giản: Ngươi hãy uống hết bình rượu này."

Chàng thanh niên nghĩ rằng: Việc này thì dễ dàng, dẫu có say đi nữa cũng chẳng sao. Sau đó, quả thật anh say tít chẳng còn biết gì nữa, trở về châm lửa đốt nhà, bà mẹ chạy ra níu kéo lại, anh đẩy mẹ ngã vào lửa, chết thiêu. Khi tỉnh dậy, đau đớn quá, mẹ đã chết, nhà không còn nên anh tự tử theo mẹ. Thế là chỉ nhận một hình phạt nhẹ nhàng uống hết một bình rượu mà lại đã nhận thêm một lúc ba hình phạt: giết mình, giết mẹ, đốt nhà. Ngoài ra rượu còn làm mất tư cách con người.

Người uống rượu vào thì nói năng bừa bãi, nham nhỡ, đi đứng xiêu vẹo, khi say quá thì té nhào xuống đất ... không còn tư cách gì cả. Tóm lại rượu gây ra nhiều tội lỗi. Sau đây là 10 điều tai hại của uống rượu mà trong kinh đã nói:

  1. Tăng trưởng lòng giết hại
  2. Trí tuệ kém dần.
  3. Sự nghiệp chẳng thành.
  4. Thâm tâm nhiêu khê.
  5. Thân hay tật bệnh.
  6. Tâm sầu hận, bồng bột, ưa cãi lẫy.
  7. Phước đức tiêu mòn.
  8. Tuổi thọ giảm bớt.
  9. Mạng chung đọa vào địa ngục

     Lợi ích của sự không uống rượu:
     a. Về phương diện cá nhân: (Người không uống rượu thì tránh được 10 điều hại kể trên):

  1. Vun trồng được hạt giống trí tuệ.
  2. Tâm trí được tỉnh táo.
  3. Giữ gìn được sức khoẻ, tránh bệnh tật.

     b. Về phương diện quán thể: Gia đình được yên vui, con cái ít bệnh tật, xã hội được an hòa, nòi giống được hưng cường.

B. Kết luận: Chúng ta đã thấy rõ: Giới chính là để "Phòng phi, Chỉ ác" (ngăn ngừa những hành động phi pháp, những ý nghĩ độc ác), chính đó là căn bản của giải thoát. Người tu theo đạo Phật nói chung, người Huynh trưởng nói riêng phải tinh tấn hành trì Giới luật, vừa là để trở thành một con người có nhân cách, hiền thiện làm gương cho đàn em; vừa để tiến dần đến giải thoát cho tự thân. Không những thế, nếu mọi người trong xã hội ai ai cũng thực hiện 5 Giới này thì quốc gia nào mà không phồn thịnh, xã hội nào lại không hòa bình.

Câu hỏi:

1.      Theo anh chị, năm giới cấm được sắp xếp như thế nào để đúng vị trí của nó? Cho giải thích?

2.      Có người bảo, vì cuộc sống hàng ngày của chúng ta, sự việc giữ giới "Không sát sanh" là một giới không thể nào giữ được. Do đó, chúng ta chỉ cần giữ giới này trong giới hạn "con người" thôi, có nghĩa là chúng ta không giết người là được rồi ! Theo anh chị nghĩ thế nào? Và cũng theo anh chị thì làm sao giữ được giới không sát sanh?

3.      Phân biệt tà dâm và dâm dục?

4.      Có người đề nghị, trong các buổi lễ quy y cho các em oanh vũ, chúng ta nên cho các các em phát nguyện giữ 3 giới (không sát sanh, không trộm cắp, không nói dối) thôi, còn lại hai giới (không tà dâm, không uống rượu) thì nên để các em đến bậc Thiếu mới phát nguyện. Anh chị nghĩ sao?

---o0o---

 

Lục Hòa ^Mục Lục

 

I.  DẪN NHẬP :

Lục hòa tức là sáu quy tắc của đức Phật dạy cho Tăng chúng sống hòa hợp với nhau. Tăng chúng là một tập thể xuất gia tu theo đạo Phật, gồm 4 người trở lên cùng chung sống tu tập với nhau. Chung sống với nhau nhiều người thì phải có những quy tắc đặt ra mới có thể duy trì được sự hòa hợp và hổ trợ cho nhau tu học. Mãi đến bây giờ, hàng xuất gia phải giữ đúng sáu phép hòa kỉnh này. Trong các Tòng lâm hàng trăm hàng ngàn vị xuất gia cũng sống theo sáu quy tắc này. Tổ chức Gia Ðình Phật tử. Ngành Oanh, mỗi Ðàn từ 4 đến 6 em. Ngành thiếu, mỗi đội chúng từ 6 đến 8 em cũng áp dụng Lục hòa và cho đến cả Ðòan, Gia đình và tập thể Huynh trưởng, trong những kỳ trại, những lúc hộïi học cũng áp dụng 6 phép hòa kỉnh này. Không những thế, trong một gia đình, cha mẹ, con cái, vợ chồng, anh chị em chung sống với nhau, nếu áp dụng đúng 6 quy tắc này thì chắc chắn cũng đem lại hòa khí tươi vui cho gia đình, tạo nên một gia đình hạnh phúc.

II.  NỘI DUNG :
A.  Nội Dung Lục Hòa :

Như trên đã nói, Lục hòa là sáu phép tắc hay quy tắc chung sống hòa hợp với nhau, tôn kính lẫn nhau. Sáu phép đó là:
     1. Thân hòa đồng trú.
     2. Khẩu hòa vô tránh.
     3. Yù hòa đồng duyệt.
     4. Giới hòa đồng tu.
     5. Kiến hòa đồng giải.
     6. Lợi hòa đồng quân.

1.  Thân hòa đồng trú :  (Thân cùng ở với nhau hòa hiệp ), cùng chung sống với nhau dưới môït mái nhà (mái chùa ) hôm sớm có nhau, phải hòa thuận thương yêu nhau:giúp đỡ lẫn nhau. Không đánh đập nhau. Ở Gia Ðình Phật tử, cùng sinh họat dưới một mái chùa, mái Ðoàn quán hoặc chung sống bên nhau trong nhữngngày trại, chúng ta phải thương yêu gắn bó nhau, sống hòa đồng, bình đẳng với nhau ( dù ngòai xã hội mỗi nghề nghiệp khác nhau, mỗi chức vụ khác nhau ).
Trong gia đình thế tục, cha mẹ, con cái, vợ chồng, anh chị em đều cùng sống hòa hiệp với nhau trong một mái nhà phải trên kính dưới nhường, thương yêu hòa thuận, đùm bọc lẫn nhau, chia sẽ công việc cho nhau, không bao giờ đánh đập nhau.

2.- Khẩu hòa vô tránh :   (Miệng hòa hiệp, không bao giờ cãi cọ, lớn tiếng, mắng nhiếc nhau ). Trong một gia đình đôi khi chỉ vì một lời nói không hòa mà anh em xa lìa nhau, cha con ngoảnh mặt với nhau, vợ chồng "quay lưng sấp mặt" với nhau; dù có sống chung trong một nhà mà mỗi người là một thế giới. Như vậy nếu không giữ được "khẩu hòa vô tránh" thì cũng không thể nào có "Thân hòa đồng trú".

3.- Ý hòa đồng duyệt :   (Ý hòa hiệp, cùng vui vẻ với nhau). Ngay trong ý nghĩ bao giờ cũng nghĩ đến sự hòa hiệp, vui vẻ với nhau, phải nghĩ đến làm sao cho đẹp lòng nhau. Nếu trong ý nghĩ, trong thâm tâm còn thắc mắc, ganh tỵ nhau, ghét bỏ nhau thì làm sao nói với nhau được lời ôn hòa, dịu ngọt ? Làm sao sống với nhau hòa nhã êm đềm ? Nếu có chăng chỉ là miễn cưỡng, giả dối, che đậy bên ngòai hoặc phải đè nén, dằn ép sự giận giữ, bực tức bên trong. Dẫu có đè nén chỉ một thời gian ngắn, dồn ép quá cũng phải "nổ" khi đã không giữ được nữa thì sẽ lớn tiếng chưỡi mắng nhau, đánh đập nhau. Và như vậy Khẩu cũng không hòa. Thân cũng không hòa.
      Ý là hệ trọng hơn cả, nó có động cơ thúc đẩy miệng và thân, kể công thì nó đứng đầu, kể tội thì nó đứng trước (Công vi thủ, tội vi khôi). "ý dẫn đầu các pháp" "Ý làm chủ, ý tạo tác" (Pháp Cú).
      Muốn thực hiện được "Ý hòa đồng duyệt", chúng ta phải tập tành hạnh Hỷ xả. Phải biết vui vẻ không chấp trước mà cần buông bỏ. Buông bỏ tất cả sự buồn phiền hờn giận, buông bỏ tất cả những quyền lợi riêng tư, chung lo cho tập thể, vun xới cho sự hòa đồng. Nhưng nhớ là : Buông bỏ một cách vui vẻ tự nguyện chứ không phải buông bỏ một cách gò ép miễn cưỡng. Nếu buông bỏ một cách miễn cưỡng thì rõ ràng "tâm" ta chưa buông bỏ chút nào.
      Ngoài ra, ai có ý kiến gì cũng nên đưa ra bàn bạc, đa số nhất trí rồi ta mới thực hiện và nêu ý kiến của cá nhân mình là ý kiến của thiểu số thì ta củng sẵn sàng dứt bỏ ý kiến đó chứ không nên cố chấp, bảo thủ. Trong gia đình,vợ chồng, cha mẹ, con cái, anh chị em và cũng giữ được như thế thì làm sao có sự bất hòa được ?. Một gia đình được như thế thì lo gì không hạnh phúc.

4.- Giới hòa đồng tu   ( Giới luật, cùng hòa hợp tu tập với nhau ): Trong một đòan thể phải có kỷ luật, đã sống hòa hợp với nhau thì phải nhắc nhở nhau giữ kỷ luật. Trong một Gia đình Phật tử có 5 điều luật, chúng ta phải luôn luôn nhắc nhở nhau sống đúng theo 5 điều luật của gia đình phật tử. người phật tử tại gia có 5 giới, chúng ta phải nhắc nhở, đôn đốc nhau một cách hòa nhã giữ gìn Giới luật. Tăng chúng cũng sách tấn nhau một cách ôn hòa sống trang nghiêm theo giới luật.
      Trong một gia đình cũng thế, nếu biết đặt ra những quy luật cho mọi người trong gia đình để giữ kỷ cương nề nếp gia đình thì mọi người trong gia đình đều phải có bổn phận nhắc nhở nhau, đôn đốc nhau một cách hòa hiệp. Lại nữa nếu trong gia đình đều quy y Tam bảo thì cũng phải khuyến khích, đôn đốc nhau tu tập theo 5 giới.
      Có được như vậy thì không những sống vui tươi hòa hợp với nhau mà còn giúp nhau thăng tiến trên bước đường giải thoát. Ðó mới chính là hạnh phúc thật sự.

5.- Kiến hòa đồng giải   (Những điều thấy biết cùng hòa hợp, giải bày cho nhau ) :Những điều gì mình thấy rõ, hiểu sâu nhưng trong tập thể có người chưa thấy biết hoặc chưa hiểu rõ thì cùng giải bày cho nhau trong sự hòa hợp dịu dàng. Như vậy mới là hỗ trợ nhau khai sáng trí tuệ, việc tu học nhờ đó mà cùng tiến bộ đồng đều. Là Huynh trưởng khi giảng dạy cho Ðoàn sinh cùng dựa trên tinh thần này không vì một sự chậm hiểu của một đòan sinh nào đó mà đâm ra gắt góng hay chán nản. Ở gia đình, cha mẹ dạy bảo con cái, anh chị dạy bảo các em cũng cần vui vẻ nhã nhặn và kiên nhẫn tránh sự nóng nảy bực bội.

6.- Lợi hòa đồng quân   ( Những lợi lộc cùng chia hòa đồng ): Trong tăng chúng khi có thí chủ cúng đường vật phẩm, thuốc men, đồ dùng … thì cùng dùng chung, không một ai được sử dụng như của riêng. Trong Gia Ðình Phật Tử, có ai ủng hộ những vật phẩm, dụng cụ, tiền bạc thì cũng được sử dụng chung cho tập thể hoặc bỏ vào quỹ của gia đình, nếu quà tặng là sách vở, bánh kẹo thì phân chia đồng đều cho từng đoàn viên nếu đủ hoặc phân chia cho các Ðội, Chúng, Ðàn hay bỏ vào tủ sách Gia Ðình Phật Tử. Không một ai được sử dụng như của riêng, dù là Gia trưởng, Liên đòan trưởng hay Ðòan trưởng.
      Ở gia đình cũng thế, mọi nguồn lợi của gia đình phải được chi tiêu theo kế họach chung, không thể chồng hay vợ tùy ý chi riêng cho bản thân của mình. Việc mua sắm may mặc cho mỗi cá nhân trong gia đình cũng phải được đề ra trong kế hoặch chi tiêu của gia đình. Rất nhiều gia đình xảy ra sự bất hòa cũng vì vấn đề này. Chồng tha hồ ăn tiêu xài phí mà không có kế hoặch thu chi chung hàng tháng của gia đình hoặc ngược lại, vợ mua sắm may mặc thỏa thích mà không nói gì với chồng.
      Những gia đình nghèo khó túng thiếu thường cảm thấy khổ cực vì thiếu thốn vật chất đã đành, những gia đình giàu sang có nhiều khi lại bất hạnh hơn là vì tranh giành nhau quyền lợi vâït chất, chi tiêu không điều hòa đưa đến sự gây gỗ hàng ngày lắm lúc dẫn đến sự đỗ vỡ hạnh phúc.

B.  Lục Hòa Trong Phạm Vi Quốc Gia, Xã Hội:   Trong một quốc gia, nếu áp dụng được sáu phép hòa kỉnh như trên; cùng chung sống trong một nước biết yêu thương đùm bọc nhau, cùng gìn giữ quê hương đất nước.
      Biết gìn giữ lời nói hòa nhã, không lớn tiếng cãi vả nhau. Bao giờ cũng có ý niệm hòa hiệp vui vẻ với nhau. Mọi người đều răn bảo, khích lệ nhau giữ gìn pháp luật nhà nước và khuyến hóa nhau tu tập bồi dưỡng đạo đức. Lại còn biết cùng nhau học hỏi nâng cao trình độ văn hóa, mở mang kiến thức, người giàu biết giúp đỡ người nghèo, biết điều hòa kinh tế, giữa nông thônvà thành thị, giữa miền núi với đồng bằng hoặc ven biển, thì làm sao mà dân chúng không an vui hạnh phúc, nước nhà không thịnh vượng ?. Nếu cả xã hội áp dụng được sáu phép hòa hợp này thì chắc chắn phải xây dựng được một xã hội an lạc hòa bình.

III. KẾT LUẬN:   Lục hòa ban đầu chỉ là sáu quy tắc, đức Phật chế ra để áp dụng cho tăng chúng khi cùng sống chung tu tập với nhau. Sáu quy tắc này đã đem lại sự hòa hợp an lành cho cả Tăng đoàn, có lúc đến hàng ngàn người. Ngày nay Gia Ðình Phật Tử đã đem áp dụng vào tổ chức của mình và cũng chính bằng quy tắc này, hơn nữa thế kỷ nay. Gia Ðình Phật Tử sống với nhau như một tổ ấm trong cái không khí hòa hợp vui tươi, mọi người đều thương yêu nhau chân tình.
      Và cũng có rất nhiều anh chị trưởng chúng ta, đem sáu quy tắc về trong gia đình đã xây dựng được những gia đình hạnh phúc. Vậy người Huynh trưởng chúng ta không những triệt để áp dụng : "LỤC HÒA trong Gia Ðình Phật Tử mà còn vận dụng vào đời sống của gia đình mình để xây dựng một gia đình an vui thanh thản".
      Ðã 25 thế kỷ rồi, lục hòa vẫn có một giá trị thực tế sáng ngời cho đến nay, nếu muốn xây dựng một "thế giới đại đồng" thì LỤC HÒA phải là cương lĩnh.

GHI CHÚ :
     1. Có những tài liệu trước đây ghi là "Khẩu hòa vô tranh" và giải thích là không tranh cãi lẫn nhau. Nhưng dùng theo từ hán : Tranh có nghĩa là giành cho hơn, cố lấy của người. Còn Tránh có nghĩa là ngăn cản, kiện cải ( có chữ Ngôn ở trước ). Vậy thì, "Khẩu hòa vô tránh" là đúng hơn.
     2. Cũng trước đây có tài liệu giải thích : "Ý hòa đồng duyệt" là ý kiến của một cá nhân được đưa ra tập thể duyệt lại. Như vậy chữ Duyệt đó có nghĩa là xem xét. Chữ này cũng đã được việt hóa ( duyệt lại một văn bản, một điều khỏan hay một sự việc gì ). Còn chữ duyệt đúng trong tiêu đề "Ý hòa đồng duyệt" là có nghĩa là : đẹp lòng, vui thích. Vậy, giải thích đúng như trong bài này.
     3. Lợi hòa đồng quân : đồng quân : chia đều. Chia đều không có nghĩa là ai cũng như ai. Quý ngài Hòa thượng, già cả cần thức ăn mềm nhiều chất bổ dưỡng hơn; các chú Sa di trẻ có thể dùng các thức ăn cứng và chưa cần mức độ bồi dưỡng như quý ngài Hòa thượng chứ ?. Như thế mới đúng là bình đẳng phải không ?. Bình đẳng đâu phải là quý ngài già cả cũng dùng thức ăn như các chú trẻ trung.
      Mức độ dùng vở viết của Oanh vũ phải ít hơn của Thiếu nam, Thiếu nữ chứ ?. Như vậy nếu có trường hợp phân phát vở viết mà phân phát cho oanh vũ phải như các em ngành Thiếu mới là "đồng quân" ư ?. Trong gia đình cũng vậy, có ai biếu cho gia đình những thức ăn gì thì phải dành thức ăn ngon vật lạ cho cha mẹ, như vậy mới đúng nghĩa là "đồng quân" chứ không phải yêu sách cha mẹ phải chia đều tất cả cho con cái. Ðến cả trong một quốc gia cũng thế, không thể bảo Tổng Thống hay Chủ Tịch nước cũng hưởng đồng lương như những nhân viên khác mới là "đồng quân" mà vì nhu cầu lớn hơn phải có đồng lương lớn hơn. Như vậy, phải là "làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu", chứ không thể "làm theo năng lực hưởng theo lao động" vì như vậy thì những ông bà già sẽ chết sớm

Câu hỏi:
     1. Xin anh chị cho biết những lợi lạc của việc giữ gìn sáu phép hòa kính? (Phân biệt rõ ràng lợi lạc của từng phép)
     2. Năm điều luật của huynh trưởng có liên hệ gì với sáu phép lục hòa không? Tại sao?
     3. Trong một tập thể, nếu chỉ có một hoặc hai người giữ phép lục hòa thôi thì liệu có mang gì lợi lạc cho tập thể đó không? Giải thích?
     4. Sống trong xã hội mạnh được yếu thua như hiện nay, sáu phép hòa kính đem đến cho anh chị được những gì, nếu không nói là thua thiệt?

 

---o0o---

 

Sổ Tức - Niệm Phật ^Mục Lục

       Chúng sanh có vô lượng căn tánh khác nhau, vô lượng căn cơ khác nhau, nên đạo Phật cũng có vô lượng pháp môn khác nhau, nhưng pháp môn nào cũng không ra ngoài : Dứt sạch tham, sân, si, đoạn trừ phiền não. Phương pháp đoạn trừ phiền não là : Giới, Ðịnh, Tuệ. Trong đó "Ðịnh" (Thiền định) chiếm một vị trí quan trọng. Bước đầu cơ bản để đi vào thiền định là sổ tức và niệm Phật. Ðây là hai phương pháp dễ thực hành nhất và có ảnh hưởng nhiều trong sự đối trị vọng niệm.

I. SỔ TỨC :

     a. Ðịnh nghĩa : Sổ tức hay còn gọi là "quán sổ tức" nghĩa là quán từng hơi thở và đếm hơi thở.

     b. Phương pháp : Theo dõi hơi thở ra vào nhẹ nhàng, thong thả, tưởng tượng khi ta thở vào ta thấy được không khí từ từ đi qua mũiû, vào khí quản, phế quản, vào phổi, khi ta thở ra ta cũng thấy được không khí từ phổi đi ra theo lộ trình ngược lại. Theo dõi hơi thở và đếm từng hơi thở, một lần thở vào, thở ra ta đếm một. Cứ thế đếm từ một đến mười, rồi trở lại từ mười đến một, cần nhất là phải chú tâm vào hơi thở đừng để tạp niệm xen vào. Nếu quên hay nghi mình đếm nhầm thì phải bỏ, bắt đầu đếm lại.

     c. Trước khi sổ tức :
     - Ðiều hòa ăn uống : không ăn đồ nặng, không quá đói hay quá no.
     - Ðiều hòa thân thể : Giữ thân thể thoải mái, phải tắm rửa sạch sẽ. Ngồi bán già hay kiết già (hoặc ngồi xếp bàn, nếu không ngồi theo hai cách trên được). Uốn mình vài lần cho giãn gân cốt, bàn tay để ngữa đặt trên chân, tay phải trên tay trái. Lưng giữ thẳng, mặt hướng thẳng về phía trước, mắt hơi nhìn xuống (nhìn sống mũi của mình).
     - Ðiều hòa hơi thở : Khi đã giữõ được thế ngồi như trên ta thở vào thở ra thong thả vài lần để hơi thở điều hòa rồi mới bắt đầu đếm. d. Cách đối trị :
     - Khi thấy tinh thần mê mẫn gần như muốn ngủ thì tức thời tập trung tư tưởng lại, để tâm vào sống mũi (hoặc giữa hai con mắt). Khi thấy tâm loạn động (những chuyện gì những vấn đề gì cứ đến trong trí nhớ chúng ta) thì để tâm nơi rốn để đối trị.
     - Khi thấy trong ngực hơi tức thì phóng xả bớt tâm trí đừng để tinh thần căng thẳng lắm.
     - Khi thấy thân muốn nghiêng ngữa, miệng chảy nuớc miếng thì phải chuyên chú nhiều hơn để đối trị.
     - Nếu thấy cảnh giới lạ không nên sanh tâm mừng hoặc sợ. Luôn luôn nhớ rằng : Vạn pháp là hư huyển, không thật thì thân tâm sẽ nhẹ nhàng khoan khoái, trí tuệ phát triển.

     e. Thời gian : Phải kiên trì, ngày nào cũng tập. Nên tập vào buổi sáng, khi vừa thức dậy lúc 4 - 5 giờ sáng là tốt nhất). Ban đầu mỗi lần tập khoảng 10 phút rồi dần dần tăng đến 1 - 2 giờ. Trước khi đi ngủ cũng nên tập, nhưng phải là lúc thanh tịnh nhất. Buổi tập nào thấy thân tâm nhẹ nhàng sáng suốt là buổi tập đó có kết quả.

     f. Thái độ : Không khoe khoang, không cho ai biết việc tu tập của mình càng tốt. Nếu thấy thân, tâm có gì thay đổi hoặc có gì chưa rõ, tìm thầy, tìm anh chị lớn tuổi đạo mà hỏi để khỏi rơi vào tà pháp. Ghi chú : Ngoài phép quán sổ tức còn có những phép quán cơ bản khác nữa là : Quán tướng, quán tánh, quán tượng. Còn đi sâu vào các phép quán thì có: "Ngũ đình tâm quán" (quán sổ tức, quán bất tịnh, quán duyên sinh, quán từ bi, quán giới phân biệt), quán vô lượng thọ (16 cách) hoặc quán tứ niệm xứ. Khi nào tu tập quán sổ tức mà tâm trí hoàn toàn định tỉnh tức là có thể bắt đầu tập các phép quán khác, tức là có thể đi vào "Tu thiền". Nhưng nếu căn cơ còn thấp, áp dụng phép sổ tức này vẫn thấy còn khó khăn thì có thể áp dụng phép Niệm Phật.

II. NIỆM PHẬT :

 Niệm Phật có hai phương pháp : Trì danh và quán niệm. Trì danh tức là niệm chuyên một danh hiệu đức Phật nào đó chẳng hạn như Phật A Di Ðà. Nam mô A Di Ðà Phật 6 chữ rõ ràng, niệm niệm đến Ngài, nhớ nghĩ đến Ngài, không cho tạp niệm xen vào. Có thể niệm bất cứ lúc nào, đi đứng, nằm ngồi. Trì danh niệm Phật rất đơn giản, phù hợp với căn tánh chúng sanh thời mạt pháp. Quán niệm tức là nhớ nghĩ đến một đức Phật, tưởng tượng đức Phật đứng trườc mặt mình với những tướng mạo tốt đẹp những đức hạnh vô cùng cao quý của Ngài.

     A.- Những Pháp niệm Phật :
     1. Truy đãnh niệm Phật : Chữ này liền với chữ kia, câu này liền với câu kia. Chú tâm niệm liên tục như thế cho đến hết giờ mình dự định.
     2. Sổ châu niệm Phật : Niệm một danh hiệu, lần một hạt chuỗi, chuyên tâm không để vọng niệm xen vào, số chuỗi niệm tùy theo nguyện của mình.
     3. Phản vãn niệm Phật : Miệng niệm thì tai chú ý nghe tiếng niệm của mình, dù niệm lớn hay niệm nhỏ. Chủ đích chuyên trì niệm và nghe tiếng niệm, ngăn trừ các ngoại trần, không cho len lõi vào.
     4. Bản châu niệm Phật : Vừa đi vừa niệm, hoặc đi kinh hành trong điện Phật, hoặc đi bách bộ trong sân, cũng có thể đang đi trên đường.
     5. Chuyên niệm niệm Phật : Niệm luôn trong ngày, bất cứ lúc nào, ở đâu, hễ tâm vọng động là niệm. Ban đầu dùng phương pháp truy đảnh, dần dần dùng phương pháp quán tưởng cho đến khi nhất tâm bất loạn.

B.- Cách thức niệm Phật :
     1. Cao thanh niệm Phật : Niệm tụng lớn tiếng, theo nhịp chuông mõ (thực hiện ở những nơi không tạo được không khí yên tĩnh).
     2. Ðề thanh niệm Phật : Chỉ niệm vừa mình nghe, không niệm lớn tiếng.
     3. Mật niệm niệm Phật (Tham cứu niệm Phật) Không niệm ra tiếng chỉ niệm bằng tư tưởng (có thể dùng phương pháp trì danh, cũng có thể dùng phương pháp quán niệm) áp dụng lúc tịnh niệm mà cũng áp dụng được trong lúc đi đường hay đang làm việc.
     4. Sổ thập niệm Phật : Phối hợp với "Sổ tức với Niệm Phật". Cứ một hơi thở ra niệm một danh hiệu Phật, 1 hơi thở vào niệm 1 danh hiệu Phật và thực hiện như sổ tức.

C.- Thật tướng niệm Phật :
     Thật tướng niệm Phật tức là niệm cái Phật tánh ở trong ta. Trong bài quy y Tam Bảo đã nói, Tam bảo đềuà có trong mỗi chúng ta, vì vô minh che lấp, chúng ta mãi đuổi theo dục vọng, sống cuộc sống đầy tham, sân, si. Chúng ta phải biết trở về với tự tánh (tự Quy y) và niệm cái Phật tánh của mình. Ðó là cái bản tính thanh tịnh cũng gọi là cái tánh Phật hay tánh Giác. Niệm Phật như vậy là đưa chúng ta về chánh niệm. Khi trở về với chánh niệm thì Tâm không còn vọng động và dĩ nhiên không còn một tạp niệm nào dấy khởi và đó chính là thực tướng niệm Phật.

      Chúng ta muốn sống cuộc đời như đức Phật thì phải đoạn trừ tất cả thiên chấp (có, không, đoạn, thường) để thể hội lý "Trung đạo", tức là niệm Phật mà không còn phân biệt mình là người niệm, đức Phật là nhữõng gì được niệm. Vì Phật và chúng sanh đều là một: Ðó là Tự Tâm Thanh Tịnh. Niệm Phật là niệm giác tánh của mình, ngoài giác tánh ấy, không còn đức Phật nào để niệm.

      Niệm Phật đến chỗ thuần diệu ấy tức là bản giác thanh tịnh, ta với Phật không hai, không khác. Không thấy có phiền não để trừ, không thấy có niết bàn để chứng, tâm hồn trong sáng, từ bi, trí tuệ phát khởi. Nói tóm lại, thực tướng niệm Phật tức là giác ngộ sự thật của vạn pháp, sống đúng như thật của nhứt thế Phật.

      Ngõ vào "Thiền định" là sổ tức hoặc niệm Phật. Hai pháp môn tu hành hợp với căn cơ chúng sanh và rất dễ thực hiện. Huynh trưởng chúng ta phải tinh tấn thực hiện hằng ngày, chớ nên xao lãng. Nhưng phải chuyên tâm và quan niệm đúng ý nghĩa của nó, nhất là phải biết tập trung tư tưởng, đừng để tâm vọng động. Khi còn sơ cơ ta vận dụng hai pháp này, khi thấy tâm trí ta hoàn toàn định tỉnh rồi thì tập tu thiền định (sẽ nói rõ pháp tu này trong một bài khác). Chủ đích là làm sao để có thể hướng đến "Thật tướng Niệm Phật" để dứt sạch được phiền não, giác ngộ hoàn toàn./-

Câu hỏi:

  1. Mục đích của Sổ tức là gì?

  2. Mục đích của Niệm Phật là gì?

  3. Thế nào là trì danh và thế nào là quán niệm?

  4. Có 4 cách thức niệm Phật. Theo anh chị nên áp dụng như thế nào để việc niệm Phật được kết quả hơn?

  5. Thế nào là thật tướng niệm Phật?

  6. Niệm Phật như thế nào mới được "ta với Phật không hai"?

---o0o---

 

Tứ Ân ^Mục Lục

      Trong xã hội, mọi người đều có tương quan tương duyên với nhau. Mọi người đều có ân nghĩa với nhau. Gần gũi nhất là ân của cha mẹ, ân của thầy bạn, rộng ra một chút là ân quốc gia xã hội. Người Phật tử còn thọ ân Tam bảo. Chúng ta phải biết báo đáp những ân nghĩa cao dày ấy một cách đúng pháp.

I. Ân Cha Mẹ:

1. Công ơn:

Cha mẹ thương con vô bờ bến, vì con mà phải chịu bao nhiêu khổ sở. Từ khi mang thai, mẹ phải chịu bao nhiêu cực nhọc, đến khi sinh hạ thì biết bao đau đớn. Khi con ra chào đời mẹ xiết bao vui mừng quên cả đau đớn. Suốt cả cuộc đời, cha mẹ làm lụng vất vả cũng chỉ cốt cho con được no ấm. Lúc con ốm đau, cha mẹ mất ăn bỏ ngủ, lo lắng thuốc thang. Rồi còn lo cho con học hành để mở mang kiến thức nâng cao văn hóa. Những bậc cha mẹ sớm có duyên với đạo Phật, còn lo đưa con đến với đạo để được giáo dục về đức hạnh và biết được con đường giải thoát khổ đau. Mãi cho đến cả khi con trưởng thành, cha mẹ cũng còn lo đến việc tạo lập gia thất xây dựng cơ nghiệp cho con. Công ơn ấy làm sao kể xiết. "Công cha như núi ngất trời, Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Ðông".

2. Cách báo đáp:

Trong đạo Phật thì Hiếu đứng đầu muôn hạnh và đức Phật có dạy: "Dù một vai cõng cha, một vai cõng mẹ, suốt cả cuộc đời, cung phụng đầy đủ, cha mẹ đại tiện, tiểu tiện trên đầu, trên cổ cũng vui tươi, vẫn chưa đủ đền đáp công ơn". Vì sao thế? Vậy phải đền đáp công ơn cha mẹ vui như thế nào? Bổn phận làm con ngoài việc cung kính, yêu thương chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ, còn phải biết giữ gìn thanh danh gia đình, làm hiển danh cho cha mẹ, không phải bằng chức vị, bằng giàu sang mà bằng đạo đức, bằng cuộc sống hiền thiện của mình. Nhưng chưa đủ, vì muốn báo đáp công ơn cha mẹ cần phải làm sao cho cha mẹ giải thoát khổ đau, sống đời an lạc. Muốn được như vậy người con phải: Nếu cha mẹ có những thói quen, sở thích không tốt như rượu chè, cờ bạc, săn bắn ... thì khuyến hóa cha mẹ từ bỏ dần dần những thói quen ấy. Nếu cha mẹ chưa biết đạo Phật thì khích lệ cha mẹ đi chùa nghe giảng giáo lý, thực hành giáo lý trong cuộc sống.

II. Ân Thầy Bạn:

1. Công ơn:

Chúng ta được mở rộng kiến thức nhờ công ơn thầy dạy dỗ, không quản nhọc nhằn. Bạn bè cùng hổ trợ giúp đỡ ta trong việc học hỏi. Thực tế ta được học hỏi ở bạn rất nhiều, những gì ta chưa hiểu được thấu đáo cũng nhờ bạn giải bày, trao đổi mà ta được thấu triệt. Bạn bè còn giúp chúng ta trong những khi thất bại, những khi gặp khó khăn hay trong lúc hoạn nạn.

2. Cách báo đáp:

Ðể đền đáp công ơn ấy, ta phải siêng năng học tập để càng ngày càng nâng cao thêm trình độ văn hóa, càng mở rộng thêm kiến thức. Dù ta không còn ngồi trên ghế nhà trường nhưng chúng ta luôn luôn tìm học ở sách vở và ở chính thực tế cuộc sống. Chúng ta phải cung kính lễ độ những người thầy của chúng ta (dù ngày nay không còn dạy chúng ta nữa). Ta thường lui tới viếng thăm giúp đỡ thầy bạn, nhất là trong lúc thầy bạn thiếu thốn hoặc gặp hoạn nạn. Tình bạn phải gắn bó thủy chung. Ngoài ra, ta phải biết khích lệ thầy bạn học hỏi giáo lý Phật đà, làm các việc phước thiện.

III. Ân Quốc Gia Xã Hội:

1. Công ơn:

Nói đến ơn quốc gia thì phải nghĩ đến các vị tiền bối, các anh hùng liệt sĩ đã ra công giữ nước và dựng nước. Những người đã đem xương máu gìn giữ quê hương, và cả những người hiện ngày đêm canh giữ quê hương, canh phòng bờ cõi, bảo vệ trị an để chúng ta được sống thanh bình. Chúng ta cũng mang nặng ân của chính phủ (nếu là chính phủ biết thương dân, lo cho sự ấm no của dân) lo mọi vấn đề giáo dục, y tế, kinh tế, văn hóa v.v... để chúng ta có cuộc sống ấm no, ổn định và tiến hóa. Rộng ra nữa, chúng ta có bát cơm ăn cũng nhờ sức lao động của những nông dân, có áo mặc nhờ ơn người thợ dệt, thợ may ... Mọi thứ trong cuộc sống ta phải nhờ vã vào xã hội, không ai có thể sống mà không nhờ vã đến kẻ khác. Những người không biết đến ân của quốc gia, của xã hội thì quả là người "bội nghĩa, vong ân".

2. Cách báo đáp:

Ðể báo đáp đền ân quốc gia xã hội chúng ta phải làm tròn bổn phận của người dân đối với đất nước, phải tôn trọng luật pháp đã quy định. Chúng ta phải biết bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc, và biết chọn lọc tiếp thu văn hóa của các nước tiên tiến chứ không đua đòi một cách mù quáng để hóa ra vong bản. Chúng ta phải biết sống giản dị, nêu cao tinh thần đoàn kết trong quần chúng, có tinh thần tương thân tương trợ nhất là những lúc đồng bào bị thiên tai hoạn nạn. Chúng ta luôn nhớ ơn, quý trọng những người lao động, đem công sức, đổ biết bao mồ hôi để ta có bát cơm, tấm áo, thuốc men khi đau ốm, mọi vật dụng cần thiết trong cuộc sống. Ðừng nghĩ rằng mình "Có tiền là có tất cả", dù ngồi trên đống tiền mà không có người nông phu cày ruộng, không có người công nhân dệt vải, không có người thợ xây dựng nhà thì thử hỏi ta có sống được không? Và còn biết bao nhiêu nhu cầu trong cuộc sống hàng ngày nữa. Vì thế ta không nên phung phí lương thực, không xài phí vật dụng quá đáng, mà phải biết tiết kiệm để giúp đỡ kẻ nghèo khó, tham gia các công tác từ thiện xã hội. Ðương nhiên, người biết ơn quốc gia xã hội là người biết tích cực làm việc trong nghề nghiệp của mình,trong chức năng của mình để đóng góp cho sự phồn vinh của quốc gia xã hội. Với người Phật tử, ta còn có một cách đền đáp công ơn quốc gia xã hội là áp dụng "Tứ nhiếp pháp" để cảm hóa, giáo dục những phần tử không tốt trong xã hội.

IV. Ân Tam Bảo:

1. Công ơn:

Còn một công ơn lớn lao của người Phật tử nữa, đó là ân Tam bảo. Qua bài "Cuộc đời đức Phật", chúng ta thấy rõ đấng Thế Tôn, không phải chỉ mong muốn giải thoát cho riêng mình, bỏ cả vợ đẹp con yêu, cung vàng điện ngọc để đi tìm chân lý mà Ngài luôn luôn thao thức tìm hạnh phúc chân thật cho nhân loại, nói rộng ra là cả vạn loại chúng sanh. Ngài đến với thế gian này bằng tấm lòng từ bi rộng lớn. Nhờ đức Thế Tôn, nhân loại mới biết con đường giải thoát khổ đau; nhờ có đức Thế Tôn, chúng ta mới có được hạnh phúc thật sự. Qua bài "Tam Quy", chúng ta cũng nhận thêm được rằng: Ngài đã tịch diệt cách đây 25 thế kỷ nhưng nhờ giáo pháp của Ngài để lại, và nhờ bao nhiêu thế hệ chơn Tăng truyền thừa, ngày nay chúng ta mới được tắm gội trong ánh sáng nhiệm mầu. Cho nên người Phật tử chúng ta không thể nào quên công ơn Tam bảo. Nhưng để báo ơn Tam bảo, ta phải làm gì đây?

2. Cách báo đáp:

Thật sự thì ân Tam bảo quá lớn lao, quá cao cả mà chúng ta thì đang chìm đắm trong mê mờ làm sao gọi là đền đáp cho trọn vẹn được? Chỉ có tấm lòng thành kính và sự thiết tha mong cầu giải thoát của chúng ta mới có thể gọi là chút báo đền công ơn (vì Thế Tôn thị hiện Ta bà cũng với mục đích giải thoát cho chúng ta khỏi đau khổ luân hồi). Muốn thế chúng ta phải: Luôn luôn tinh tấn học hỏi, nghiên cứu kinh điển, đem giáo pháp thực hành trong đời sống. Nhưng khi nghiên cứu kinh điển ta phải tránh thái độ "Chấp chặt", chúng ta phải hiểu rằng giáo lý là phương tiện để đi đến chân lý chứ giáo lý không phải là chân lý, giáo lý chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng, đừng lầm ngón tay là mặt trăng. Có vậy mới hiểu đúng được giáo lý. Cũng như ngày xưa, đức Phật muốn chúng ta đền đáp công ơn Ngài bằng cách "Hiểu đúng" về Ngài chứ không phải bằng cách tôn xưng mù quáng: "Tin ta mà không hiểu ta là phỉ báng ta". Nghiên cứu giáo lý với tinh thần cố chấp là tự nhốt mình trong cái võ "giáo điều" để không còn nhìn được sự vật đúng như thật tướng của nó. Khác gì đứa con khờ dại chỉ nhìn người cha qua sự nghiêm khắc khi mình có lỗi rồi kết luận về cha mình ... mà không nhìn được tình thương bao la ẩn tàng trong ánh mắt nghiêm nghị đó. Chúng ta còn phải biết hộ trì Chánh pháp bằng cách tích cực trong nhiệm vụ của người huynh trưởng, luôn luôn chăm sóc đàn em, nhất là lo chu toàn việc học tập giáo lý của các em. Chúng ta tham gia mọi công tác Phật sự trong khả năng của mình. Ngoài ra chúng ta nên ủng hộ các công trình phiên dịch, trước tác, ấn hành kinh sách Phật giáo. Chúng ta luôn luôn cung kính cúng dường chư vị Tăng, Ni giới hạnh trang nghiêm, tu hành thanh tịnh.

Kết luận:
Ðã là người, nhất là người Phật tử tức là phải biết TỨ ÂN và tìm tất cả phương tiện đền đáp. Nhưng phải đền đáp một cách sáng suốt, có ý nghĩa như đã trình bày trong bài. Theo cách báo đáp ấy thì không phải đợi giàu sang mới báo đáp được, mà dù có nghèo khó đến mức nào, bần hèn đến đâu nữa cũng có thể báo đền đúng pháp, tùy khả năng của mình. Nhưng đừng ngại và cũng đừng bao giờ cho rằng mình khả năng vật chất không có mà khả năng tinh thần thì cũng hạn hẹp. Ví dù hạn hẹp đến độ nào, ít ra mình cũng có thể đem những gì mình đã học hiểu ở giáo lý, áp dụng vào đời sống hàng ngày và khuyến hóa mọi người sống theo lời Phật dạy, đó cũng chính là đền đáp Tứ trọng ân một cách thiết thực nhất../-

Câu hỏi:

1.      Liệt kê các ân mà chúng ta đã và đang thọ nhận?

2.      Tại sao phải mang ân Thầy Bạn?

3.      Làm thế nào để báo ân Cha Mẹ?

4.      Làm thế nào để báo ân Tam Bảo?

5.      Chúng ta biết rằng, nếu muốn báo ân tất cả thì suốt đời này cũng không hết, vậy chúng ta phải biết làm sao để có thể báo ân trọn lành cho hết tất cả các ân mà chúng ta đã và đang thọ nhận?

6.      Theo ý bạn, bài Tứ Ân này có cần bổ sung thêm gì nữa không? Là những gì?

---o0o---

 

Thiền Sư Tỳ Ni Ða Lưu Chi ^Mục Lục

 

I. Mở đầu:

Vua Lý Thái Tông (1028-1054), một vì Vua sùng bái đạo Phật của thời Lý đã làm bài kệ truy tặng vị Thiền Sư Tỳ Ni Ða Lưu Chi (450 năm về trước) như sau:

"Sáng tự lai Nam quốc
Văn quân cứu tập thiền,
Ly khai chư Phật tín,
Viễn hợp nhất tâm nguyện,
Hạo hạo lăng già nguyệt,
Phân phân Bát nhã liên,
Hà thời lâm diện kiến,
Tương dữ thoại tùng huyền".

Dịch nghĩa:


Mở lối sáng nước Nam,
nghe Ôn từ lâu đã luyện thiền,
Mở bày niềm tin Phật,
Xa hợp một nguồn tâm.
Trăng lăng già vằng vặc,
Sen Bát nhã ngát thơm,
Bao giờ được gặp mặt,
Cùng nhau bàn đạo huyền.

II. Thân thế:

Theo sách "Cổ châu pháp vân bổn hạnh ngũ lục" thì vào khoảng đời Ðông Tấn (317-419) có một Pháp sư tên là Tỳ Ni Ða Lưu Chi, người Ấn độ, nhận thấy ở Nam Việt đã hiểu đạo Phật liền qua trú ở tại chùa Pháp vân, giảng dạy Phật Pháp, và từ đó Phật giáo Việt Nam thịnh hành.

Theo sách "Thiền uyển tập anh" viết lại lời Thiền sư Thông Biện thì Ngài Tỳ Ni Ða Lưu Chi ở Nam Thiên Trúc, từ thuở nhỏ đã vân du Tây Ấn, nhưng pháp duyên chưa gặp. Ngài lại đi về phía Ðông Nam, rồi đến Trường an vào năm 562, là kinh đô nước Hán (Trung quốc). Vào năm 574, khi Phật giáo Trung quốc bị Võ Ðế Bắc Chu đàn áp, Ngài đi về đất Nghiệp (Hồ Nam). Lúc bấy giờ Tổ thứ 3 Thiền tông của Trung quốc là Tăng Xán cũng đang tỵ nạn tại núi Tư không (Hồ Nam). Khi Ngài Tỳ Ni Ða Lưu Chi gặp Tổ Tăng Xán thấy phong độ phi phàm của Tổ liền chắp tay, Tổ vẫn ngồi yên không nói gì cả, trong lúc đứng chờ, suy tư tâm mới mở ra, như đã sở đắc. Ngài Tỳ Ni Ða Lưu Chi liền lạy xuống 3 lạy, Tổ chỉ gật đầu ba cái mà thôi. Ngài liền lùi 3 bước mà thưa rằng:

"Ðệ tử từ trước tới nay chưa có cơ hội, xin Hòa Thượng từ bi cho đệ tử được hầu bên tả hữu".

Tổ liền nói:

"Ông mau mau đi về phương Nam mà tiếp xúc với thiên hạ, không nên ở lâu tại đây".

Ngài Tỳ Ni Ða Lưu Chi liền từ biệt Tổ đi về phương Nam, ở lại chùa Chế Chỉ Quảng Châu. Ở đây Ngài đã dịch được một số kinh, như kinh Tượng Ðầu, Nghiệp Báo Sai Biệt từ chữ Phạn ra chữ Hán. Tháng 3 năm Canh Tý (580), Ngài vào đến nước ta, trú trì chùa Pháp Vân, dịch thêm bộ kinh Tổng Trì. Trong thời gian này, Ngài đã thâu nhận đệ tử và truyền đạo, nhờ vậy mà giáo pháp mới hưng khởi tại Việt Nam và trở nên thịnh đạt.

Năm 594, trước khi tịch, Sư gọi đệ tử Pháp Hiển đến, nói xong bài kệ. Sư chấp tay tịch. Ngài Pháp Hiển làm lễ trà tỳ, thu xá lợi 5 sắc, xây tháp để thờ.

III. Sự nghiệp:

1.      Ngài Tỳ Ni Ða Lưu Chi đã dịch được 3 bộ kinh: Tương đầu, Nghiệp Báo Sai Biệt và Tổng Trì.

2.      Ngài Tỳ Ni Ða Lưu Chi là một Tăng sĩ người Ấn độ, nhưng lại được Ngài Tăng Xán là Tổ thứ 3 của Thiền tông Trung quốc truyền cho tâm ấn và được đặt tên Trung hoa là Diệt Hỷ.

3.      Ngài Tỳ Ni Ða Lưu Chi là người đầu tiên truyền Thiền tông vào nước ta, và lập ra phái Thiền thứ nhất ở Việt Nam, mang đại bộ phận sắc thái Ấn độ mặc dù trước đó ở Việt Nam đã có một Thiền Sư Việt Nam là Quán Duyên đang dạy Thiền học, trong đó có môn đệ là Pháp Hiển, nhưng về sau Pháp Hiển lại theo học ngài Tỳ Ni Ða Lưu Chi, để rồi sau đó được truyền tâm ấn trở thành Tổ thứ 2 của Thiền Việt Nam.

4.      Nhờ có ngài Tỳ Ni Ða Lưu Chi, Thiền học Việt Nam đã được truyền qua 19 đời, từ năm 580 đến 1213, tạo thành sắc thái Thiền tông Việt nam mà trong đó có những vị thiền sư như Vạn Hạnh, đã làm nên những trang sử vẻ vang cho đạo pháp và dân tộc Việt Nam.

IV. Bảng liệt kê

19 thế hệ của Phái Thiền Tỳ Ni Ða Lưu Chi: Kể từ năm ngài Tỳ Ni Ða Lưu Chi vào Việt Nam (580) đến ngày mất của Ỷ Sơn (1213). Như vậy phái Thiền Tỳ Ni Ða Lưu Chi đã truyền được 563 năm với 19 thế hệ, theo bản liệt kê dưới đây:

1.      Tỳ Ni Ða Lưu Chi

2.      Pháp Hiển

3.      Huệ Nghiêm

4.      Thông Biện

5.      Không rõ danh tánh

6.      Không rõ danh tánh

7.      Long Tuyền

8.      Ðịnh Không và 2 người không rõ danh tánh

9.      Thông Thiện và 2 người không rõ danh tánh

10.  La Quý An Pháp Thuận Ma Ha Ma Ya và 2 người không rõ danh tánh

11.  Thiền Ông và 2 người không rõ danh tánh

12.  Vạn Hạnh Ðịnh Tuệ - Từ Ðạo Hạnh - Trì Bạt Thuần Chân

13.  Huệ Sinh - Thiền Nhân - Minh Không - Bản Tịch và 2 người không rõ danh tánh

14.  Khánh Hỷ

15.  Giới Không - Pháp Dung

16.  Chân Không - Ðạo Lâm

17.  Diêu Nhân - Viên Học - Tinh Thiền

18.  Viễn Thông

19.  Y Sơn và 1 người không rõ danh tánh.

V. Nội dung cơ bản về Thiền học của Tỳ Ni Ða Lưu Chi:

  1. Nội dung Thiền học của Ngài Tỳ Ni Ða Lưu Chi mang nhiều dấu ấn của Thiền tông Ấn độ lúc bấy giờ. Mặc dù đã đến Tổ thứ ba là Tăng Xán, Thiền Trung quốc vẫn còn mang dấu ấn Thiền Ấn độ mãi cho đến Tổ thứ 6 là ngài Huệ Năng, Thiền Trung Quốc mới mang sắc thái Trung quốc.

  2. Ngài Tỳ Ni Ða Lưu Chi rất chú trọng tu Ðịnh và qua tiến bộ trong việc tu Ðịnh mà trí Bát Nhã hừng sáng và hành giả đồng thời cũng chung nhiều quyền năng siêu nhiên, mà các sách thường gọi là phép thần thông.

  3. Bộ kinh đầu tiên do ngài dịch là kinh Tượng Ðầu, có thể xem như là kinh căn bản của Thiền học, mang tinh chất phá chấp của văn hệ Bát Nhã, nói về bản chất của giác ngộ.

  4. Bộ kinh thứ ba mà ngài dịch là kinh Tổng Trì, là một kinh về Mật giáo; sự có mặt của yếu tố Mật giáo là một đặc điểm cơ bản của Thiền phái này.

  5. Những thế hệ kế tiếp của Thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi, đều bộc lộ tư tưởng Thiền của Sơ Tổ, và còn có những kiến thức siêu việt trong nước và nước ngoài như Pháp Hiển, Sùng Phạm, Từ Ðạo Hạnh, Vạn Hạnh. 6. Nội dung của Thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi rất có tính cách dân tộc Việt Nam, vừa biểu lộ được sinh hoạt tâm linh siêu việt của Phật giáo và biểu lộ đời sống thực tế đơn giản của quần chúng nghèo khổ.

VI. Kết Luận:

Là huynh trưởng, sau khi nghiên cứu thân thế và sự nghiệp của Ngài Tỳ Ni Ða Lưu Chi, chúng ta phải: Thấy được công to lớn của vị Sư người Ấn độ, tầm đạo ở Trung quốc và giảng dạy Thiền học tại Việt Nam, ngài mở ra phái Thiền đầu tiên ở Việt Nam từ năm 589 đến 1213, nối tiếp 19 thế hệ Thiền, ảnh hưởng quan trọng đến tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam cho đến hiện nay. Phải xác định cho được ngài Sơ Tổ Thiền VN, khác với Ngài Bồ Ðề Ðạt Ma, Sơ Tổ của phái Thiền Trung Quốc. Có nên chăng các chùa Việt nam nên thờ ngài Tỳ Ni Ða Lưu Chi? Xưa nay chỉ thấy thờ ngài Bồ Ðề Ðạt Ma là Sơ Tổ Thiền Trung Quốc trong hầu hết các chùa Việt Nam mà không thấy thờ Sơ Tổ Thiền Việt Nam. Chú tâm nghiêm trì giới luật, thực hành Thiền học, áp dụng hữu hiệu trong cuộc sống hàng ngày, đó mới là tỏ lòng thành kính thù ân bậc thượng Tăng hữu công.

Tài liệu tham khảo:
1. Việt Nam Phật giáo sử lược của HT Thích Mật Thể
2. Việt Nam Phật Giáo sử luận của Nguyễn Lang

Câu hỏi:

  1. Ngài Tỳ Ni Ða Lưu Chi đến Việt Nam bằng cách nào?

  2. Nguyên nhân nào đã làm cho Ngài Tỳ Ni Ða Lưu Chi ở lại Việt Nam?

  3. Ðặc điểm về Thiền của Ngài Tỳ Ni Ða Lưu Chi là gì? Tại sao lại thích hợp với Việt Nam?

  4. Có nên thờ Ngài Tỳ Ni Ða Lưu Chi tại các Chùa không? Tại sao?

Nguồn (10/25/2008): www.mienthienhoa.org